Hình ảnh trượt đốt sống thắt lưng

Giới thiệu

Trượt đốt sống ra trước (spondylolisthesis) là sự di lệch ra trước của đốt sống so với đốt sống bên dưới, ngược lại, khi đốt sống phía trên di lệch ra sau so với đốt sống bên dưới được gọi là trượt đốt sống ra sau (retrolisthesis). Thuật ngữ spondylolisthesis được sử dụng lần đầu tiên bởi Killia vào năm 1853; trượt đốt sống có thể là hậu quả khi một cấu trúc của cung thần kinh đốt sống (vertebral neural arch) bị tổn hại. Khi các phim X quang cột sống nghiêng cho thấy tình trạng trượt đốt sống thì cần đánh giá thêm về mức độ và nguyên nhân gây trượt, cũng như nguyên nhân gây chèn ép rễ thần kinh liên quan. Bởi vì cả khuyết phần liên mỏm khớp (spondylolysis) và trượt đốt sống (spondylolisthesis) có thể không có triệu chứng, nên người đọc X quang cũng giữ vai trò xác định các nguyên nhân của đau lưng và đau chân bởi chúng có thể phát sinh từ các đoạn cột sống khác nhau. Phân loại trượt đốt sống thắt lưng được Wiltse và cộng sự làm từ năm 1976. Bản phân loại sửa đổi được trình bày trong Bảng 1. (more…)

Giải phẫu cung sau của đốt sống thắt lưng

Giải phẫu cung sau của đốt sống thắt lưng. Mẫu giải phẫu (a-c) và chụp CT dựng hình thể tích (volume rendering, kết xuất đồ họa thể tích)(d-f) minh họa giải phẫu cung sau. Nhìn nghiêng bên trái (a,d), nhìn trên (b,e) và nhìn sau (c,f). Mỗi đốt sống gồm một thân đốt sống ở phía trước và một cung ở phía sau. Thân và cung tạo thành lỗ đốt sống (*). Từ cung thần kinh (neural arch) có một mỏm gai (Sp) lồi ra sau và hai mỏm ngang (T) kéo dài từ bờ ngoài của cung. Những mỏm xương này là vị trí quan trọng cho các cơ sâu của lưng bám. Chúng cũng chia cung thần kinh thành các phần khác nhau. Phần cung thần kinh giữa mỏm gai và mỏm ngang là mảnh (L) và phần của cung giữa mỏm ngang và thân đốt sống là cuống (P). Cuống của mỗi đốt sống có khuyết ở bờ trên và bờ dưới. Khuyết của hai đốt sống liên tiếp tạo thành một lỗ, lỗ gian đốt sống (O) để các thần kinh gai sống đi qua. Các mỏm khớp trên (S) và mỏm khới dưới (I) lồi ra từ các trụ khớp, đó là các phần xương ở chỗ nối của mảnh và cuống. Mỏm khớp dưới có mặt hướng ra trước và ở phía sau so với mỏm khớp trên. (more…)

Tóm lược hình ảnh thoái hóa cột sống

Giải phẫu khớp gian đốt sống

  • Nhân nhầy (nucleus, hình 1) nằm hơi lệch sau, đư­ợc các sợi của vòng xơ bao bọc.
  • Thân đốt sống có viền x­ương (epiphyseal ring, hình 1) nhô cao, trung tâm lõm đ­ược đĩa sụn (cartilage endplate) phủ, bên d­ưới là bản x­ương d­ưới sụn (mũi tên, hình 2)
  • Vòng xơ gắn với đĩa sụn và viền x­ương bằng sụn vôi hóa (mũi tên rỗng, hình 1).
  • Các sợi vòng ở phía trư­ớc móc vào mặt tr­ước thân đốt gọi là sợi Sharpey (đầu mũi tên, hình 1).
  • Dây chằng dọc tr­ước dính chặt ở giữa thân đốt sống, lỏng ở mặt trư­ớc vòng xơ

(more…)

Siêu âm bất thường mạch máu (phần 1): u mạch máu

Siêu âm các bất thường mạch máu

phần 1: u mạch máu

( dịch từ Vascular anomalies. Josée Dubois and F. Rypens. Ultrasound Clin 4 (2009))

Kể từ năm 1980 đã có rất nhiều bài báo nghiên cứu làm sáng tỏ sự nhầm lẫn phổ biến về các bất thường mạch máu. Bất chấp nhưng nỗ lực đó, việc sử dụng thuật ngữ không thích hợp vẫn phổ biến, dẫn đến các mô tả chẩn đoán hình ảnh không chính xác và đôi khi là những chẩn đoán sai và quản lý không đúng các bất thường mạch máu [1].
Phân loại sinh học đã giúp giải quyết phân loại bệnh học các bất thường mạch máu ở 90% các tổn thương. Phân loại này được Mulliken ở Glowacki mô tả lần đầu tiên vào năm 1982, tiếp sau đó được Hiệp hội quốc tế nghiên cứu các bất thường mạch máu (ISSVA) ở Rome sửa đổi và thông qua vào năm 1996 [2,3].
Các bất thường mạch máu được phân thành hai nhóm sinh học riêng biệt: các khối u mạch máu đặc trưng bằng sự loạn sản và tăng sinh tế bào lúc khởi đầu; các dị dạng mạch máu đặc trưng bởi sự rối loạn phát triển hình dạng, chuyển đổi nội mô bình thường. (more…)

Hình ảnh giải phẫu dây chằng chéo trước của gối

Dây chằng chéo trước (anterior cruciate ligament, ACL) chạy chéo từ xương chày đến lồi cầu ngoài xương đùi. Nó là dây chằng nội khớp nhưng ngoài màng hoạt dịch, bao gồm các sợi chạy từ vùng phía trước gian lồi cầu đầu trên xương chày đến mặt trong lồi cầu ngoài xương đùi (trong rãnh liên lồi cầu). Các sợi của dây chằng chéo trước xếp thành hai bó gọi là bó trước-trong và bó sau-ngoài theo chỗ bám của chúng tại xương chày [1]. Bó trước-trong bám ở trong và cao hơn tại mặt trong lồi cầu ngoài xương đùi, bó sau-ngoài bám ở ngoài hơn và thấp hơn tại mặt trong lồi cầu ngoài xương đùi. Đôi khi có một bó trung gian thêm vào bám ở giữa hai bó này [2,3]. Hai bó trước-trong và sau-ngoài có thể nhìn thấy rõ trên các ảnh cộng hưởng từ với từ lực 1.5T (hoặc lớn hơn) theo mặt cắt thông thường (đứng dọc, đứng ngang) hoặc các mặt cắt bổ sung (oblique-sagittal, paracoronal) [5]. Các số đo toàn bộ dây chằng chéo trước có chiều dày xấp xỉ 38mm và chiều rộng 11mm [4]. Bó trước-trong có chiều dài 36,9 ± 2,9 mm, bó sau-ngoài dài 20,5 ± 2,5 mm. Cả hai bó có kích thước chiều rộng cấu trúc bên trong tương tự nhau 5,0 ± 0,7 mm và 5.3 ± 0.7 mm [5]. (more…)

Các kiểu phản ứng màng xương – vỏ xương

Màng xương phản ứng với sự xâm lấn bằng sự tạo xương với cường độ đáp ứng phụ thuộc vào mức tiến triển nhanh của tổn thương ban đầu. Phản ứng màng xương này chỉ có thể thấy khi nó ở vùng mất chất vôi, biểu hiện mất chất vôi xảy ra cùng với phản ứng màng xương nhưng luôn biểu hiện muộn, bệnh nhân càng trẻ biểu hiện mất chất vôi càng sớm (15 ngày đến 3 tháng). Điều này giải thích trường hợp các khối u tiến triển tương đối chậm, các tổn thương này luôn có trong các phim X quang đầu tiên, trong khi bệnh lý nhiễm khuẩn tiển triển đột ngột hơn thì phản ứng màng xương không có trong các phim X quang đầu tiên mà thường xuất hiện sau. (more…)

Loãng xương và các tổn thương xương dạng pseudopermeative

Loãng xương là bệnh đặc trưng bởi khối lượng xương giảm, vi cấu trúc xương hư hại dẫn đến tình trạng xương bị yếu và hệ quả tăng nguy cơ gãy xương [1]. Khi so sánh khái niệm loãng xương (osteoporosis) và nhuyễn xương (osteomalacia) người ta quan tâm đến việc giảm khối lượng (quantity) xương trong loãng xương là yếu tố chính, còn nhuyễn xương thì khối lượng xương bình thường nhưng chất lượng (quality) xương bất thường do quá trình khoáng hóa bất thường. Trên phim X quang thường quy không thể phân biệt được loãng xương và nhuyễn xương. (more…)

Tiến triển trong chẩn đoán X quang u xương

Trích Dịch từ “The Evolution of Musculoskeletal Tumor Imaging”. Hwang & Panicek. Radiol Clin N Am 47 (2009)

—————————————————

Tiến triển trong chẩn đoán X quang u xương

Những cột mốc quan trọng (more…)

U xương ác tính

Dịch từ  “sách hồng” nhập môn X quang xương khớp và bản ebook Fundamentals of Diagnostic Radiology, 3rd Edition  của Clyde A. Helms

—————————————————————–

U xương ác tính

Chẩn đoán phân biệt u xương ác tính và lành tính

Tiêu chuẩn X quang nào có ích trong việc xác định u xương ác tính so với lành tính? Các sách giáo khoa chuẩn và y văn đã nêu ra 4 tiêu chuẩn để đánh giá một tổn thương: (1) phá hủy vỏ xương, (2) phản ứng màng xương, (3) hướng hay trục của tổn thương, (4) vùng chuyển tiếp. (more…)

Các tổn thương xương dạng nang lành tính

Dịch từ  “sách hồng” nhập môn X quang xương khớp và bản ebook Fundamentals of Diagnostic Radiology, 3rd Edition  của Clyde A. Helms

————————————–

CÁC TỔN THƯƠNG XƯƠNG DẠNG NANG LÀNH TÍNH

Tổn thương dạng nang, phồng xương, lành tính là một trong những tổn thương phổ biến hơn các dạng tổn thương khác mà bác sỹ X quang có thể bắt gặp trong thực hành. Danh sách chẩn đoán phân biệt có thể khá dài và thường được xây dựng theo cách nhìn nhận của bác sỹ X quang dựa trên kinh nghiệm của họ. Phương pháp thực sự đáng khen ngợi này được gọi là phân tích nhận dạng (pattern identification), nhưng nó có thể dẫn tới một danh sách chẩn đoán phân biệt rất dài và nhiều kết luận sai lầm nếu không được hạn chế bằng một số lập luận. (more…)

Siêu âm Doppler tĩnh mạch chi dưới

Trong hai thập kỷ gần đây, siêu âm tĩnh mạch đã trở thành kỹ thuật chẩn đoán hàng đầu để đánh giá ban đầu đối với các bệnh nhân nghi ngờ huyết khối tĩnh mạch sâu chi dưới. Siêu âm đã thay thế chụp tĩnh mạch và các loại thăm dò tĩnh mạch khác, như CT thông thường, chụp nuclit phóng xạ, ghi biến đổi thể tích trở kháng (impedance plethysmography). Kỹ thuật siêu âm ép mạch máu lần đầu tiên được mô tả trong chẩn đoán huyết khối tĩnh mạch sâu bởi Raghavendra và các đồng nghiệp [1] vào năm 1986, và đưa vào thực hành ở Mỹ năm 1987 bởi Cronan và đồng nghiệp [2], ở Hà Lan bởi Appleman và đồng nghiệp [3]. Trong những năm tiếp theo, nhiều bài báo nghiên cứu đã chứng tỏ siêu âm tĩnh mạch là khám xét lựa chọn để chẩn đoán huyết khối tĩnh mạch, các kỹ thuật và tiêu chuẩn siêu âm thang xám và siêu âm Doppler cũng được phát triển.

     Bài này giới thiệu vai trò của siêu âm duplex và siêu âm Doppler màu trong thực hành hiện nay để chẩn đoán các bệnh nhân nghi ngờ có huyết khối tĩnh mạch sâu, suy tĩnh mạch chi dưới. (more…)

Hình ảnh đặc trưng của chấn thương giật (3): Vai, khuỷu

—————

Imaging Features of Avulsion Injuries

May 1999 RadioGraphics, 19, 655-672.

  1. Max A. Stevens, MD,
  2. Georges Y. El-Khoury, MD,
  3. Mary H. Kathol, MD,
  4. Eric A. Brandser, MD and
  5. Shirley Chow, MD

—————————

(Tiếp theo và hết)

Chấn thương vai

Gãy giật chỉ riêng củ lớn (mấu động lớn) của xương cánh tay là hiếm [43]. Củ lớn là vị trí gắn của các gân trên gai, gân dưới gai và gân cơ tròn bé. Các bệnh nhân có tiền sử ngã với bàn tay xoè, khuỷu tay duỗi và thường trật chỏm xương cánh tay ra trước [44]. Cánh tay bị giảm lực giạng giống như rách bao gân quay. Rất khó phân biệt giữa gãy giật đứt củ lớn và rách bao gân quay khi khám lâm sàng. Tuy nhiên việc phân biệt là quan trọng bởi vì cách điều trị khác nhau. Trên phim X quang, gãy có thể không rõ và chỉ thấy trên các phim chụp về sau (Hình 34a). Chụp cộng hưởng từ thường được yêu cầu trong các trường hợp nghi ngờ rách bao gân quay, và trong những trường hợp đó thương tình cờ  thấy phù tủy xương bao quanh củ lớn và đó chính là bờ của gãy giật đứt ẩn bên dưới (Hình 34b) [6]. Trong một số trường hợp, siêu âm có thể hữu ích để nhận ra một chỗ khấc vỏ và nên điều tra thêm bằng các phương pháp chẩn đoán hình ảnh khác. Trong rách bao gân quay, kết quả của phẫu thuật cho thấy hơn hẳn điều trị bảo tồn. Trái lại, gãy giật không di lệch củ lớn được điều trị tốt nhất bằng bảo tồn với sự bất động và sau đó tăng dần cường độ hoạt động [43]. (more…)

Hình ảnh đặc trưng của chấn thương giật (2): gối, cổ chân và bàn chân

Imaging Features of Avulsion Injuries

May 1999 RadioGraphics, 19, 655-672

  1. Max A. Stevens, MD,
  2. Georges Y. El-Khoury, MD,
  3. Mary H. Kathol, MD,
  4. Eric A. Brandser, MD and
  5. Shirley Chow, MD

—————

(Tiếp)

Chấn thương gối (more…)

Hình ảnh đặc trưng của chấn thương giật (1): khung chậu

———————

Imaging Features of Avulsion Injuries

  RadioGraphics, May 1999, 19, 655-672.

  1. Max A. Stevens, MD,
  2. Georges Y. El-Khoury, MD,
  3. Mary H. Kathol, MD,
  4. Eric A. Brandser, MD and
  5. Shirley Chow, MD

Bài gồm các phần:

– Giới thiệu

– Chấn thương khung chậu

– Chấn thương gối

– Chấn thương mắt cá và bàn chân

– Chấn thương vai

– Chấn thương khuỷu

Bài dài nên tui đăng dần từng phần

———————————–

Giới thiệu

Các chấn thương giật (avulsion injuries) hay xảy ra với các người tham gia thể thao có tổ chức, đặc biệt là các thanh niên. Các đặc điểm hình ảnh của cả chấn thương giật cấp tính và mạn tính của khung chậu, gối, mắt cá và bàn chân, vai, và khuỷu đã được đánh giá để giúp phân biệt các tổn thương này với các tiến triển bệnh nghiêm trọng hơn như là u và nhiễm khuẩn. Về  xq, các chấn thương cấp (thường do co cơ mạnh, lệch trục, không cân xứng) có thể kết hợp với các mảnh xương bị nhổ, trong khi các chấn thương bán cấp có hình thái xâm lấn (aggressive) bao gồm các vùng tiêu xương và xơ cứng hỗn hợp. Các chấn thương mạn (do vi chấn thương lặp lại nhiều lần) hoặc các chấn thương cũ thiếu hoạt động có thể phối hợp với các khối phồng xương và có thể có sự tương đồng đáng chú ý với các tiến triển u hoặc nhiễm khuẩn. Mặc dù không thường xuyên được yêu cầu, chụp CT giúp ích cho chẩn đoán nếu các dấu hiệu X quang khả nghi hoặc khi chấn thương không ở giai đoạn cấp tính. Hình ảnh cộng hưởng từ (CHT) phù hợp nhất để đánh giá chấn thương cơ, gân và dây chằng. Nhận ra các điểm đặc trưng hình ảnh và hiểu biết giải phẫu gân cơ sẽ giúp chẩn đoán chính xác các chấn thương giật. (more…)

Gãy giật khung chậu không do chấn thương

 Bài nghiên cứu này được xuất bản đã 10 năm, bạn nên  kiểm tra lại:

1. Gãy giật mấu chuyển bé không do chấn thương ở người trưởng thành có phải là một dấu hiệu đặc trưng bệnh của di căn không?

2. Gãy giật bệnh lý xương chậu đã được báo cáo chưa, lúc nào?

Qua thời gian, kiến thức thay đổi như những ngọn sóng và những khoảng trống kiến thức có thể xuất hiện. Nhưng hiện nay bạn có thể nhanh chóng lấp những khoảng trống đó  bằng những từ khoá thích hợp và các công cụ tìm kiếm (search engines). (more…)

Phân loại tổn thương mạch máu lành tính


Phân loại tổn thương mạch máu lành tính: lịch sử, danh pháp phổ biến, và những gợi ý cho bác sỹ X quang

AJR July 2011 vol. 197 no. 1 8-11

1.                  Mark J. Kransdorf 1

2.                  Mark D. Murphey2

3.                  Julie C. Fanburg-Smith3

1 Department of Radiology, Mayo Clinic Florida, 4500 San Pablo Rd, Jacksonville, FL 32224.
2 American Institute for Radiologic Pathology, Silver Spring, MD.
3 Department of Soft Tissue and Orthopedic Pathology, Armed Forces Institute of Pathology, Washington, DC.

“Có nghĩa gì đâu một cái tên? Hoa hồng, cho dù mang tên nào, vẫn có hương thơm dịu ngọt”[1], không giống với kịch Romeo và Juliet của Shakespeare, trong y học hiện nay những cái tên rất quan trọng. Gọi tên một nhóm những đặc điểm lâm sàng và hình ảnh bằng một chẩn đoán ngắn gọn có thể cung cấp toàn bộ thông tin có thể hiểu về bệnh của bệnh nhân. Trong chuyên khoa u bướu, khi thông tin này kết hợp với phân độ và xếp giai đoạn đúng thì có người ta thể lập kế hoạch điều trị, xác định tiên lượng. (more…)