Siêu âm xơ gan

Xơ gan đặc trưng bởi sự xơ hóa bắc cầu lan rộng và vô số nốt tái sinh thay thế nhu mô gan bình thường. Xơ gan là chặng cuối phổ biến của rất nhiều nguyên nhân gây tổn thương gan mạn tính. Các nguyên nhân phổ biến của xơ gan được tóm tắt trong bảng bên dưới. (more…)

Chẩn đoán hình ảnh u tụy

Tụy là tuyến tiêu hóa phụ có chức năng quan trọng (nội tiết và ngoại tiết) nằm trong khoang sau phúc mạc. Tụy có kích thước nhỏ, cấu trúc và liên quan giải phẫu phức tạp. Do tụy nằm phía sau các tạng ổ bụng, nằm vắt ngang sát phía trước cột sống nên cần nhiều phương pháp như siêu âm, cắt lớp vi tính và cộng hưởng từ để chẩn đoán bệnh lý và u tụy. (more…)

Chẩn đoán hình ảnh u lách

Hình ảnh tổn thương lách ngày càng được phát hiện nhiều do yêu cầu khảo sát hình ảnh ổ bụng bằng siêu âm, cắt lớp vi tính, cộng hưởng từ tăng lên và phương tiện sẵn có. Tuy vậy hình ảnh chẩn đoán của lách luôn là thách thức với bác sỹ lâm sàng, bác sỹ ung bướu và ngay cả bác sỹ chuyên khoa chẩn đoán hình ảnh. Lý do chính là các bất thường của lách và đặc biệt với u lách hiếm gặp, không triệu chứng, phát hiện tình cờ.
U lách gồm u nguyên phát và u thứ phát. Trong thực hành lâm sàng, u lách nguyên phát có thể phân loại rộng rãi thành u lympho bào, u nguồn gốc mạch máu và các tổn thương giống u. U nguyên phát nguồn gốc mạch máu gồm các tổn thương lành tính như u máu (hemangioma), u mạch bạch huyết (lymphangioma) và u mô thừa (hamartoma), dạng trung gian ác tính như u tế bào quanh mạch máu (hemangiopericytoma), u mạch tế bào rìa (littoral cell angioma) và loại ác tính thực sự là ung thư liên kết mạch máu (hemangiosarcoma).
Kiến thức về lâm sàng, giải phẫu bệnh, và hình ảnh chẩn đoán u lách rất quan trọng trong chẩn đoán và điều trị, nhưng rất ít khi được tổng hợp hệ thống, cập nhật và phổ biến rộng rãi. Bài này tổng hợp y văn hiện nay về bệnh học, lâm sàng và đặc điểm hình ảnh các khối u lách, nhằm vào những đặc điểm cho phép chẩn đoán cụ thể hơn. (more…)

Phim X quang bụng: phân loại các mẫu hình khí

 

Phim X quang bụng từ lâu đã có vai trò quan trọng trong đánh giá các trường hợp cấp cứu đau bụng. Hiện nay có nhiều phương tiện chẩn đoán hình ảnh tiên tiến như siêu âm, phim cắt lớp vi tính và cộng hưởng từ, nhưng chụp phim X quang bụng vẫn là một trong những chỉ định được yêu cầu nhiều nhất trong cấp cứu bụng.
Mặc dù các phim X quang bụng nói chung có hiệu quả thấp và phần lớn cho một mẫu hình phân bố khí không có gì đặc biệt. Tuy nhiên, một số mẫu hình khí có thể cho phép chẩn đoán cụ thể và do đó ảnh hưởng đến quản lý bệnh nhân. Những mẫu hình khí đặc biệt đó thường tinh vi và có thể bị bỏ qua nếu không được cân nhắc khi đọc phim X quang bụng.
Mục tiêu của bài tổng hợp này nhằm diễn tả việc đánh giá phim X quang bụng và các mẫu hình khí, phân bố khí trong ổ bụng, phân nhóm vị trí khí ở trong hoặc ngoài tạng rỗng. Các tác giả sẽ (a) minh họa một loạt mức độ chẩn đoán từ phim X quang để từ đó hướng dẫn quản lý tiếp theo, đặc biệt sử dụng đúng lúc và hợp lý siêu âm và cắt lớp vi tính, (b) bàn luận các vấn đề lâm sàng thường gặp đối với phim X quang bụng, (c) diễn tả vai trò của các kỹ thuật tiên tiến hơn. (more…)

Các nang tuyến tiền liệt

Các nang và tổn thương dạng nang ở tuyến tiền liệt là những thực thể thường gặp trong siêu âm. Một nghiên cứu gần đây thấy tỷ lệ nang ở đường giữa tuyến tiền liệt phát hiện qua siêu âm đường ổ bụng là 7,6% ở những người không có triệu chứng, các nang này là những biến thể bình thường [1]. Với những bệnh nhân có triệu chứng tiết niệu sinh dục, phát hiện các nang ở tuyến tiền liệt cần được tập trung đánh giá xem nang gây triệu chứng hay chỉ là biến thể bình thường. (more…)

Một số hình ảnh siêu âm trong Vô sinh nam

Giải phẫu tiền liệt tuyến trên siêu âm qua trực trực tràng

Tiền liệt tuyến (TLT) có hình dạng giống hình chóp đảo ngược. TLT nằm ở đằng sau cung dưới của khớp mu và ở phía trước bóng trực tràng (Hình 1A). Đỉnh của nó tựa vào mặt trên của hoành niệu – dục và gắn với mặt sau của xương mu. Vùng phía trên được gọi là đáy của tuyến, là vùng lớn nhất và sát bờ dưới của đáy bàng quang. Có một bao xơ mỏng bao quanh phần sau ngoài của TLT. TLT ngăn cách với trực tràng bởi lớp quanh TLT và một màng gọi là mạc Denonvillier (Hình 1B). Đám rối tĩnh mạch Santorini nằm trong mô liên kết bao quanh phía trước và phía dưới TLT. Trong các vùng sau ngoài của TLT có các cặp mạch máu và thần kinh gọi là các bó mạch máu – thần kinh chạy chếch vào trong TLT. Các nhánh từ các bó mạch máu thần xuyên vỏ đi vào TLT [1,2].

  (more…)

Siêu âm túi mật

Hiện nay trên thế giới siêu âm vẫn là phương pháp chẩn đoán hình ảnh hàng đầu trong đánh giá túi mật và đường mật. Các chỉ định chính gồm nghi ngờ sỏi mật, viêm túi mật, và tắc mật. (more…)

Tắc ruột non: Những dấu hiệu chẩn đoán hình ảnh quan trọng

Small Bowel Obstruction: What to Look For

Ana Catarina Silva, MD • Madalena Pimenta, MD • Luís S. Guimarães, MD

RadioGraphics 2009; 29:423–439

—————————————————————————-

Tắc ruột non: Những dấu hiệu chẩn đoán hình ảnh quan trọng  

Giới thiệu

Tắc ruột non (small bowel obstruction, SBO) là một tình trạng lâm sàng phổ biến do tắc cơ học hoặc chức năng của ruột non, nó cản trở lưu thông các thành phần trong lòng ruột. Tắc ruột non là nguyên nhân của một trong các lý do thường gặp để tư vấn phẫu thuật và nhập viện, chiếm 20% các trường hợp phẫu thuật do đau bụng cấp tính [1,2]. (more…)

Hình ảnh các bệnh của ống niệu rốn

Urachal Remnant Diseases: Spectrum of CT and US Findings

Jeong-Sik Yu, MD ● Ki Whang Kim, MD ● Hwa-Jin Lee, MD

Young-Jun Lee, MD ● Choon-Sik Yoon, MD ● Myung-Joon Kim, MD

RadioGraphics 2001; 21:451–461

———————————————————————–

Các bệnh của ống niệu rốn tồn lưu: Phổ của các dấu hiệu siêu âm và CT

  (more…)

Siêu âm mạch máu các bệnh lý gan

Giới thiệu

Siêu âm Doppler màu và siêu âm Doppler xung hệ mạch gan cung cấp rất nhiều thông tin chức năng và cấu trúc có giá trị trong chẩn đoán nhiều bệnh lý ở gan. Siêu âm Doppler cũng được sử dụng thường quy để kiểm soát sau điều trị bệnh lý gan, gồm cả ghép gan và nối tắt cửa-chủ trong gan qua đường  tĩnh mạch cảnh (TIPS).

Bài này đề cập đến hệ mạch gan bình thường, tiếp theo là các thay đổi bệnh học gặp trong xơ gan và tăng áp lực tĩnh mạch cửa, huyết khối tĩnh mạch cửa, các bất thường tĩnh mạch cửa và huyết khối tĩnh mạch gan, hội chứng Budd-Chiari.

(more…)

Siêu âm buồng trứng và phần phụ :(phần 2) các tổn thương trung gian, hướng dẫn báo cáo

———————————————

US of the Ovary and Adnexa: To Worry or Not to Worry?

Faye C. Laing, MD • Sandra J. Allison, MD

RadioGraphics 2012 (October Special Issue 2012)

—————————————————————

Siêu âm buồng trứng và phần phụ: giải toả hay chất thêm lo lắng

(tiếp theo và hết)

4. Báo cáo và Quản lý các tổn thương Buồng trứng và Ngoài buồng trứng theo Hình thái

Siêu âm có vai trò quan trọng trong đánh giá các khối của khung chậu. Các bác sỹ siêu âm mô tả ngắn gọn và chính xác các phát hiện có liên quan trong phần chính của báo cáo, rồi đưa ra chẩn đoán định hướng cho phép bác sỹ lâm sàng quản lý bệnh nhân một cách hợp lý. Đối với các tổn thương của buồng trứng và ngoài buồng trứng có thể nhận biết dễ dàng như đã mô tả ở phần trên, một vài nhóm tác giả đã công bố các tiêu chuẩn hướng dẫn quản lý chúng. (more…)

Siêu âm buồng trứng và phần phụ: (phần 1) tối ưu hoá kỹ thuật, các thực thể bệnh lý và sinh lý quan trọng của buồng trứng và phần phụ

———————————————

US of the Ovary and Adnexa: To Worry or Not to Worry?

Faye C. Laing, MD • Sandra J. Allison, MD

RadioGraphics 2012 (October Special Issue 2012)

—————————————————————

Siêu âm buồng trứng và phần phụ: giải toả hay chất thêm lo lắng

(bài dài nên tôi sẽ chia thành 2 phần và post lần lượt)

Giới thiệu

Đối với phần lớn các bệnh nhân có các dấu hiệu lâm sàng gợi ý bệnh lý khung chậu thì siêu âm là phương pháp chẩn đoán hình ảnh hàng đầu được yêu cầu để đánh giá thêm. Phương pháp này không xâm lấn và có độ chính xác cao trong phát phát hiện cũng như định rõ đặc điểm hình ảnh các khối phần phụ [1-5]. Thật may mắn, do nhiều bệnh lý phần phụ hoặc là lành tính hoặc lá ít ý nghĩa lâm sàng nên khi chúng không có triệu chứng thì thường được theo dõi bằng siêu âm. Trong một số ít các trường hợp mới cần thiết phải chỉ định thêm chụp cộng hưởng từ hoặc đôi khi là chụp cắt lớp vi tính. (more…)

Quản lý nang buồng trứng và nang phần phụ không triệu chứng phát hiện bằng siêu âm: tóm tắt khuyến cáo của Hội X quang Mỹ 2010

Management of Asymptomatic Ovarian and Other Adnexal Cysts Imaged at US: Society of Radiologists in Ultrasound Consensus Conference Statement

 Radiology September 2010 vol. 256 no. 3 943-954

————————————–

(tôi xin giới thiệu bảng tóm tắt ngắn gọn có hình minh hoạ và tài liệu tham khảo của hội nghị. Bài đầy đủ có thể xem miễn phí online). (more…)

Chụp đại trực tràng cản quang

            Các phương pháp chẩn đoán hình ảnh đại tràng tiến triển theo thời gian, khiến vai trò và số lượng chụp xquang đại tràng cản quang ngày càng giảm [1]. Tuy vậy, chụp đại tràng cản quang vẫn được sử dụng ở các khoa chẩn đoán hình ảnh có truyền thống trên thế giới [1] để đảm bảo bệnh nhận nhận được dịch vụ chẩn đoán và điều trị chất lượng cao. (more…)

Chụp X quang lưu thông ruột non cản quang baryt

 

          Bệnh lý ruột non ít gặp, khó chẩn đoán do giải phẫu ruột phức tạp. Các tổn thương biểu hiện  tinh vi, khó chẩn đoán đối với các kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh hiện đại và cổ điển. Kỹ thuật chụp lưu thông ruột non hiện nay vẫn được dùng khá phổ biến, ngay cả ở các nước có kỹ thuật y học tiên tiến (tại hơn 60% các cơ sở y tế cộng đồng hoặc bệnh viện đại học Mỹ, 2004)[1]. (more…)

Lồng ruột ở trẻ em: các khái niệm hiện nay về chẩn đoán

Intussusception in Children: Current Concepts in Diagnosis and Enema Reduction

Gloria del-Pozo, MD,

José C. Albillos, MD,

Daniel Tejedor, MD,

Rosa Calero, MD,

Miguel Rasero, MD,

Urbano de-la-Calle, MD,

Ulpiano López-Pacheco, MD

March 1999 RadioGraphics, 19, 299-319.

—————————-

LỒNG RUỘT Ở TRẺ EM: CÁC KHÁI NIỆM HIỆN NAY TRONG CHẨN ĐOÁN VÀ THỤT THÁO LỒNG.

(Bài này xuất bản đã lâu nhưng tôi đọc lại về chủ đề lồng ruột trẻ em chưa thấy có thay đổi đáng kể. Bài dài nên tôi sẽ chia và post làm 2 phần: chẩn đoán và thụt tháo lồng).

GIỚI THIỆU

Lồng ruột là một trong các nguyên nhân phổ biến nhất gây đau bụng cấp ở trẻ nhỏ. Lồng ruột xảy ra khi một phần ống tiêu hóa (intussusceptum-phần ruột bị lồng) lồng vào đoạn kế tiếp (intussucipiens-phần ruột nhận lồng). Bệnh thường xảy ra ở trẻ từ 6 tháng tới 2 tuổi. Trong nhóm tuổi này, lồng ruột là tự phát trong hầu hết các trường hợp. Phần lớn là lồng hồi tràng-manh tràng. Trong quá khứ, lồng ruột là bệnh nặng với tỉ lệ tử vong và di chứng cao. Hiện nay, chẩn đoán nhanh chóng và điều trị hiệu quả đãn đến những kết cực thuận lợi ở hầu hết các trường hợp bệnh. (more…)

Siêu âm Doppler màu hẹp động mạch thận

 

Tăng huyết áp là một trong các bệnh phổ biến nhất trên thế giới gây tử vong và tàn phế. Ước tính có 0,5% đến dưới 5% các bệnh nhân tăng huyết áp do bệnh động mạch thận thực sự [1,2], được định nghĩa là tăng huyết áp do hẹp động mạch thận. Ngoài gây tăng huyết áp, hẹp động mạch thận cũng có thể gây suy thận. Trên thực tế, Scoble và Hamilton [3] gợi ý rằng có tới 40% các trường hợp tăng huyết áp người già có rối loạn chức năng thận và không có bệnh thận nguyên phát thì có hẹp động mạch thận đáng kể. Điều trị nội khoa ít có cơ hội thành công ở các bệnh nhân tăng huyết áp động mạch thận, trong khi phẫu thuật hoặc tái tạo mạch thận qua da là các phương pháp điều trị hiệu quả. (more…)

Đánh giá Các nhóm hạch bạch huyết ổ bụng theo AJCC

Learning the nodal stations in the abdomen

F E Morón,  MD

J Szklaruk, PhD, MD

The British Journal of Radiology, 80 (2007), 841–848 (more…)

Các thành phần giả sỏi thận trong siêu âm

Sonographic Mimics of Renal Calculi

JUM October 1, 2004 vol. 23 no. 10 1361-1367

Durr-e-Sabih, MBBS, MSc, Ali Nawaz Khan, MBBS, FRCP, FRCR,
Marveen Craig, RDMS, Joseph A. Worrall, MD, RDMS

 ——————————————————

Bệnh sỏi thận là một nguyên nhân thường gặp của đau lưng, nhưng chẩn đoán không chính xác bệnh sỏi thận có thể gây nên những hệ quả lâm sàng quan trọng đối với bệnh nhân. Nếu đau lưng bị gán sai do sỏi thận, bệnh nhân có thể không được điều trị đúng. (more…)

UIV và… cái búa mới (phần tiếp)

When you’ve got a new hammer, everything looks like a nail.

Michael Brant-Zawadzki

Đầu những năm 2000, câu chuyện về số phận của UIV được khơi lên trong tạp chí Radiology và Radiographics. Mở đầu, Amis cho rằng UIV là “con bệnh ở giai đoạn cuối”, đang bị khai tử và thay thế bằng chụp CT đường tiết niệu, MRI đường tiết  niệu. Việc của các nhà Xquang thận và tiết niệu lúc đó là mau chóng soạn văn bia cho nó [1]. Năm 2001, Dyer viết bài tổng quan về UIV dựa theo kinh nghiệm [2] và đáp lại những “ý kiến hồ đồ” đó bằng một so sánh ẩn dụ UIV và CT đường tiết niệu với những cái búa trong hộp đồ nghề [3]. CT đường tiết niệu được ví như cái búa mới, và những cái mới thì thường được quảng bá là “tất cả trong một” (all in one); còn UIV được ví như cái búa cũ kỹ quen thuộc, nó có vai trò của nó và có thể bổ trợ cho các dụng cụ khác. Và như vậy nó làm phong phú hộp dụng cụ của người lành nghề, và có thể truyền cho thế hệ sau.

Những tranh luận như vậy rất khó đạt được những điểm đồng thuận nếu không có phương pháp qui chuẩn và những bằng chứng thuyết phục. Hơn nữa, người ta cũng có thể rút ra bài học từ những cái cũ, dù nó kết thúc hay chưa. Vì vậy, trong thời gian tới tôi sẽ giới thiệu chủ đề về hình ảnh đường tiết niệu và những chủ đề nổi bật khác dưới dạng những chủ đề được đánh giá kỹ càng theo những phương pháp và nguồn chuẩn. Nhưng trước hết chúng ta cùng xem lại những hình ảnh xquang đường tiết niệu đẹp, tinh tế dựa trên kỹ thuật đúng cách cùng những diễn giải đầy kinh nghiệm của Dyer và đồng sự qua bài lược dịch dưới đây.

1. Amis ES. Epitaph for the urogram. Radiology 1999; 213:639-640.

2. Raymond B. Dyer et al. Intravenous Urography: Technique and Interpretation. Radiographics July 2001 21:799-824.

3. Robert R. Hatter. Invited Commentary. RadioGraphics, 2001 21: 822-823.

 

PS: UIV quen dùng hơn chữ viết tắt tiếng Anh IVU

 

——————————————————————————————————————-

 

CHỤP X QUANG ĐƯỜNG TIẾT NIỆU TIÊM TĨNH MẠCH: KỸ THUẬT VÀ DIỄN GIẢI

 (tiếp) (more…)

UIV và … cái búa mới

“When you’ve got a new hammer, everything looks like a nail”.

Michael Brant-Zawadzki

Đầu những năm 2000, câu chuyện về số phận của UIV được khơi mào trong tạp chí Radiology và Radiographics. Mở đầu, Amis cho rằng UIV là “con bệnh ở giai đoạn cuối”, đang bị khai tử và thay thế bằng chụp CT đường tiết niệu, MRI đường tiết  niệu. Việc của các nhà Xquang thận và tiết niệu lúc đó là mau chóng soạn văn bia cho nó [1]. Năm 2001, Dyer viết bài tổng quan về UIV dựa theo kinh nghiệm [2] và đáp lại những “ý kiến hồ đồ” đó bằng một so sánh ẩn dụ UIV và CT đường tiết niệu với những cái búa trong hộp đồ nghề [3]. CT đường tiết niệu được ví như cái búa mới, và những cái mới thì thường được quảng bá là “tất cả trong một” (all in one); còn UIV được ví như cái búa cũ kỹ quen thuộc, nó có vai trò của nó và có thể bổ trợ cho các dụng cụ khác. Và như vậy nó làm phong phú hộp dụng cụ của người lành nghề, và có thể truyền cho thế hệ sau.

Những tranh luận như vậy rất khó đạt được những điểm đồng thuận nếu không có phương pháp qui chuẩn và những bằng chứng thuyết phục. Hơn nữa, người ta cũng có thể rút ra bài học từ những cái cũ, dù nó kết thúc hay chưa. Vì vậy, trong thời gian tới tôi sẽ giới thiệu chủ đề về hình ảnh đường tiết niệu và những chủ đề nổi bật khác dưới dạng những chủ đề được đánh giá kỹ càng theo những phương pháp và nguồn chuẩn. Nhưng trước hết chúng ta cùng xem lại những hình ảnh xquang đường tiết niệu đẹp, tinh tế dựa trên kỹ thuật đúng cách cùng những diễn giải đầy kinh nghiệm của Dyer và đồng sự qua bài lược dịch dưới đây.

1. Amis ES. Epitaph for the urogram. Radiology 1999; 213:639-640.

2. Raymond B. Dyer et al. Intravenous Urography: Technique and Interpretation. Radiographics July 2001 21:799-824.

3. Robert R. Hatter. Invited Commentary. RadioGraphics, 2001 21: 822-823.

 

PS: UIV quen dùng hơn chữ viết tắt tiếng Anh IVU

 —————————————————————————– (more…)