Siêu âm phân loại BI-RADS 3, 4 và 5 các khối của vú

1. Lời giới thiệu
Vào năm 2003, nhận thấy siêu âm được sử dụng rộng rãi trong chẩn đoán hình ảnh vú, Hiệp hội Điện quang Mỹ (ACR) đã thành lập ấn bản đầu tiên về từ vựng BI-RADS (Breast Imaging Reporting and Data System) cho siêu âm trong một nỗ lực để tiêu chuẩn hóa báo cáo và diễn giải hình ảnh, và để cải thiện việc thông tin giữa các nhà điện quang, các bác sỹ giới thiệu bệnh nhân (referring physician) và các nhà phẫu thuật (1). Tuy nhiên, từ vựng BI-RADS siêu âm (cho đến nay vẫn là bản thứ nhất) đã không được củng cố bằng số liệu có quy mô lớn, mạnh về thống kê đối với các kết quả nghiên cứu, và do đó ít được thừa nhận so với từ vựng BI-RADS cho xquang vú.
Một vài nhóm nghiên cứu đã chứng minh tính biến đổi trong việc đánh giá các khối của vú khi sử dụng từ vựng BI-RADS siêu âm. Berg và đồng sự (2) báo cáo độ chính xác của 11 người làm siêu âm (quan sát viên) có kinh nghiệm trong bối cảnh thí nghiệm đã cho thấy mức độ tương đồng trung bình (moderate agreement) đối với đánh giá cuối cùng ( = 0.52) và mức độ tương đồng thấp (fair agreement, = 0.25) đối với cấu trúc âm bên trong. Lazarus và đồng sự (3) cho thấy mức độ tương đồng thấp giữa các quan sát viên ( = 0.29) đối với cấu trúc âm bên trong và mức độ tương đồng trung bình đối với bờ của tổn thương và cấu trúc âm phía sau ( = 0.40 cho cả hai). Gần đây nhất, Abdullah và đồng sự (4) cho thấy mức độ tương đồng thấp giữa các quan sát viên (κ = 0.36) trong đánh giá bờ của tổn thương, đặc biệt khi bờ không rõ ràng. Các kết quả nghiên cứu của Abdullah và đồng sự (4) cũng cho thấy mức độ tương đồng thấp giữa các quan sát viên trong đánh giá các khối nhỏ và độ tin cậy kém khi chia loại 4 BI-RADS thành các nhóm nhỏ.
Mặc dù một số biến đổi đó có thể phụ thuộc vào kỹ thuật người thực hiện và nói chung nó là thách thức cố hữu của phương pháp siêu âm, thì một số biến đổi lại phát sinh do khác nhau cơ bản về diễn giải tổn thương. Các diễn giải có thể bị ảnh hưởng bởi các mức độ huấn luyện hoặc kinh nghiệm của nhà điện quang hoặc có thể phát sinh do nhầm lẫn khi sử dụng từ vựng BI-RADS siêu âm.
Trong một nỗ lực để thúc đẩy việc sử dụng nhất quán từ vựng BI-RADS siêu âm, chúng tôi lần đầu tiên mô tả hồi cứu cơ sở dữ liệu của khoa chúng tôi nhằm xác định các trường hợp siêu âm đánh giá là BI-RADS 3, 4, 5 để minh họa những thách thức trong việc sử dụng từ vựng. Chúng tôi cung cấp một tổng quan về từ vựng BI-RADS siêu âm, tiếp đó giới thiệu các từ mô tả BI-RADS siêu âm và đánh giá phân loại cuối cùng, kèm theo các thí dụ. Rồi chúng tôi bàn luận cách ứng dụng từ vựng siêu âm để có thể đưa ra những khuyến cáo cụ thể, và chúng tôi trình bày các ca bệnh minh họa những thách thức trong việc sử dụng từ vựng siêu âm và những thách thức kỹ thuật trong chẩn đoán hình ảnh theo dõi bằng siêu âm. Chúng tôi bàn luận về những thách thức trong đánh giá phân loại cuối cùng và xác định các yếu tố lâm sàng ảnh hưởng đến đánh giá cuối cùng và những khuyến cáo đưa ra cho một số tổn thương, như là áp xe, cục máu tụ, hoại tử mỡ. Cuối cùng là bàn luận ngắn về tầm quan trọng của sự phù hợp điện quang-bệnh học, đặc biệt với các tổn thương BI-RADS loại 4.

2. Các ca bệnh minh họa
Chúng tôi đánh giá hồi cứu cơ sở số liệu của khoa giai đoạn từ 1 tháng 1 năm 2003 đến 31 tháng 12 năm 2004 thấy 926 trường hợp siêu âm vú được phân loại là BI-RADS 3 (n = 356), BI-RADS 4 (n = 526), BI-RADS 3 (n = 46) có sẵn chẩn đoán mô học hoặc theo dõi bằng hình ảnh ít nhất 2 năm (5). Việc đọc lại phim ảnh tài liệu được thực hiện bởi 1 trong 8 bác sỹ điện quang chính có 2 – 20 năm kinh nghiệm siêu âm vú. Qua đánh giá lại, chúng tôi xác định các trường hợp để minh họa cho những thách thức trong việc sử dụng từ vựng BI-RADS siêu âm và làm sáng tỏ các quyết định quản lý khác nhau có thể phát sinh từ việc sử dụng chính xác hơn. Các ca bệnh cung cấp các gợi ý hợp tác, được áp dụng hồi cứu căn cứ vào từ vựng cho từ mô tả, phân loại, các khuyến nghị, và nêu bật ảnh hưởng của các yếu tố lâm sàng với việc phân loại và quản lý. Vì mục đích hoàn thiện việc bàn luận các yếu tố lâm sàng, một số trường hợp (áp xe, hoại từ mỡ) đã được chọn từ hồ sơ bệnh mà không có trong số liệu đánh giá hồi cứu của chúng tôi.

3. Từ vựng BI-RADS của ACR dành cho siêu âm
Các đánh giá BI-RADS dành cho siêu âm (Bảng 1) dựa trên phân tích các từ mô tả (descriptors) của một số phân loại đặc điểm (Bảng 2)(6-9), rồi căn cứ vào điểm đặc trưng khả nghi ác tính nhất để đưa ra đánh giá và lời khuyên siêu âm. Bất cứ khi nào có thể, từ vựng siêu âm dùng các thuật ngữ tương tự với các thuật ngữ sử dụng trong từ vựng chụp x quang vú, với sự trùng nhau chủ yếu liên quan tới hình dạng và bờ của khối. Một số đặc điểm tổn thương chỉ có đối với siêu âm, như hướng, cấu trúc âm bên trong, và đặc điểm cản âm phía sau. Các từ mô tả siêu âm nên chọn lựa sau khi đánh giá ở hai hướng vuông góc khẳng định rằng phát hiện đó là một tổn thương thực sự.
Bảng 1 Các thứ hạng đánh giá siêu âm BI-RADS

bang 1

Bảng 2 Các từ mô tả siêu âm BI-RADS

bang 2

Các báo cáo cuối cùng nên đưa ra tài liệu so sánh với kết quả của các phương pháp chẩn đoán hình ảnh khác, bao gồm chụp x quang vú, MRI vú, hoặc siêu âm có trước. Khi cả siêu âm và chụp x quang vú được thực hiện cùng một ngày thì các dấu hiệu nên được ghi lại trong một báo cáo có lời khuyên/đánh giá cuối cùng dựa trên dấu hiệu nghi ngờ nhất.

4. Các từ mô tả siêu âm BI-RADS
Từ vựng siêu âm gồm có 6 đặc điểm hình thái của các khối đặc của vú: hình dạng, hướng, bờ, ranh giới tổn thương, cấu trúc âm bên trong, đặc điểm của âm phía sau. Hình dạng được mô tả là bầu dục, tròn, hoặc không đều đặn (méo mó, irregular); và hướng của khối có thể được mô tả là song song hoặc không song song với mặt da (thường được mô tả là “chiều cao lớn hơn chiều rộng” hoặc “thẳng đứng”, bao gồm hình tròn) (Hình 1) (10). Như đã đề cập từ trước, có những từ mô tả siêu âm BI-RADS đã được chứng minh là có độ biến thiên cao hơn giữa những người làm siêu âm đó là bờ của tổn thương và cấu trúc âm. Trong một nỗ lực để thúc đẩy sử dụng nhất quán hơn những từ mô tả này, chúng tôi sẽ cung cấp những thí dụ của từ mô tả siêu âm BI-RADS (Hình 2, 3) (3, 10).

1aHình 1a

1bHình 1b

1cHình 1c

Hình 1 (a, b, c). Hướng và hình dạng. Các khối đặc của vú trên ảnh siêu âm có thể phân loại theo hướng và hình dạng. Hướng của khối đặc hoặc là song song (b) hoặc không song song (a, c) với bề mặt da. (a) Hình tròn (các mũi tên) được định nghĩa như là hình cầu, hình bóng; hình tròn thì hiếm gặp nhưng có tỷ lệ ác tính tương đối cao (60% – 100%). Các tổn thương có hướng không song song bao gồm cả những tổn thương hình tròn. (b) Hình bầu dục (mũi tên) được định nghĩa như là hình elip, hình trứng (bờ có thể có hai hoặc ba chỗ lượn sóng [tức là hơi “chia thùy” hoặc “thùy to”]). Khoảng 60% các khối được mô tả siêu âm hình bầu dục được sinh thiết, tỷ lệ ác tính là 16%. (c) Khối hình dạng không đều (méo mó) thì không tròn cũng không bầu dục. Khoảng 40% các khối méo mó được sinh thiết, và xấp xỉ 60% khối trong đó được phát hiện là ác tính (10).

2aHình 2a

2bHình 2b

2cHình 2c

2dHình 2d

2eHình 2e

Hình 2. Bờ khối đặc của vú trên ảnh siêu âm có thể được phân loại là [giới hạn] rõ hoặc [giới hạn] không rõ. (a) Bờ [giới hạn] rõ được vạch ra rõ ràng với sự chuyển tiếp đột ngột giữa tổn thương và mô bao quanh. Bờ [giới hạn] không rõ bao gồm các loại có múi nhỏ (microlobulated), không rõ ràng (indistinct), có góc cạnh (angular), có gai (spiculated). Một khối có bờ giới hạn không rõ nên được xếp loại BI-RADS 4 hoặc 5 với khuyến nghị sinh thiết. (b) Bờ có các múi nhỏ (microlobulated margin) có các cung lượn sóng ngắn (nhiều hơn 3 cung) dạng cắt khấc (hay kiểu vỏ sò). (c) Bờ không rõ (indistinct margin) là không có ranh giới rõ ràng giữa khối và mô bao quanh. (d) Bờ góc cạnh (angular margin) có các góc nhọn (các mũi tên). (e) Bờ có gai (speculated margin) có vẻ giống các đoạn thẳng lồi ra từ khối (3). Bờ góc cạnh và bờ có gai liên quan lần lượt tới tỷ lệ ác tính 60% và 86%. Ranh giới của khối (lesion boundary), một đặc điểm có liên quan với bờ, có thể được mô tả như là chuyển tiếp đột ngột (tức là ranh giới rõ ràng giữa tổn thương và mô bao quanh) như ở hình a hoặc hoặc một quầng tăng âm (tức là vùng chuyển tiếp tăng âm mà không có chuyển tiếp rõ nét với mô xung quanh) như được chỉ ra ở đầu các mũi tên trong hình e. Một tổn thương có chuyển tiếp đột ngột thì nhiều khả năng lành tính hơn, trong khi quầng tăng âm hoặc vùng chuyển tiếp rộng ở vùng ranh giới kết hợp với tỷ lệ ác tính cao hơn (70%) (10).

3aHình 3a

3bHình 3b

3cHình 3c

Hình 3 (a, b, c). Cấu trúc âm bên trong (internal echo pattern or echotexture). Cấu trúc âm của tổn thương trên ảnh siêu âm được mô tả theo quy chiếu với cấu trúc âm của mỡ dưới da vùng vú. Tổn thương (các mũi tên chỉ) được mô tả là giảm âm (a), đồng âm (b), hoặc tăng âm (c) so với mỡ (đầu các mũi tên). Bởi vì phần lớn các khối đặc của vú là giảm âm, bao gồm cả u xơ tuyến và ung thư xâm lấn, nên các dấu hiệu khác như đặc điểm bờ sẽ giúp thiết lập mức độ nghi ngờ ác tính.

Khi mô tả bờ khối, điểm phân biệt quan trọng nhất là bờ [giới hạn] rõ và bờ [giới hạn] không rõ, một tính chất phân biệt các khối yêu cầu sinh thiết với các khối có thể cần theo dõi (Hình 2, 3). Theo định nghĩa ở từ vựng siêu âm (1), bờ [giới hạn] rõ là bờ vạch ra rõ hoặc sắc nét, với sự chuyển tiếp đột ngột giữa tổn thương và mô bao quanh. Bờ [giới hạn] không rõ bao gồm các từ mô tả bờ còn lại, gồm chia thùy nhỏ (microlobulated), không rõ ràng (indistinct), có góc cạnh (angular), có gai (spiculated). Bờ chia thùy nhỏ biểu hiện dạng cắt khấc (hay hình vỏ sò). Bờ không rõ ràng (indistinct) là tổn thương không tách biệt hẳn với mô bao quanh. Bờ có góc cạnh biểu hiện các góc nhọn, thường thì góc rất nhọn, cần phân biệt với bờ có gai, nó có vẻ giống một đoạn thẳng nhô ra từ khối. Từ mô tả bờ “microlobulated”-“chia thùy nhỏ” trong từ vựng BI-RADS siêu âm nên phân biệt với các thuật ngữ “chia thùy”-“lobulated” hoặc “chia thùy lớn”-“macrolobulated” (tức là có ít hơn 4 chỗ nhấp nhô), đó là các từ mô tả hình dạng sử dụng trong từ vựng BI-RADS xquang vú. Một tổn thương mà bờ có 2 hoặc 3 chỗ uốn lượn được phát hiện khi siêu âm có thể phân loại như là hình bầu dục (Hình 1). Các từ mô tả hình dạng trên siêu âm của BI-RADS gồm có hình tròn, hình bầu dục, và hình không đều đặn (méo mó). Thuật ngữ này có tiềm năng nhầm lẫn với những người quen thuộc với các thuật ngữ BI-RADS xquang vú.
Ranh giới tổn thương nên được mô tả là (a) chuyển tiếp đột ngột (Hình 2a), nó có sự tách biệt rõ nét giữa tổn thương và mô bao quanh, hoặc (b) quầng tăng âm biểu hiện một vùng chuyển tiếp tăng âm bao quanh tổn thương (Hình 2e)(1). Quầng tăng âm là một dấu hiệu siêu âm nghi ngờ ác tính.
Khi xác định đặc điểm cấu trúc âm bên trong của tổn thương, nên quy chiếu với mỡ dưới da vú trong trường siêu âm. Các từ mô tả cấu trúc gồm có trống âm, tăng âm, hỗn hợp (chứa cả thành phần trống âm và tăng âm), giảm âm, và đồng âm (1). Bằng cách sử dụng biện pháp so sánh này, và thực hiện mô tả cấu trúc âm một cách chính xác cùng với điều chỉnh tối ưu các thông số kỹ thuật thì hầu như không có sự khác biệt trong thực hành. Nói chung, các tổn thương tăng âm so với mỡ dưới da thì lành tính. Bởi vì phần lớn các khối đặc lành tính và ác tính của vú là giảm âm, các đặc điểm khác, như tính chất bờ khối sẽ thiết lập mức độ nghi ngờ. Thí dụ các tổn thương giảm âm, đồng âm và tăng âm được trình bày trong Hình 3.
Các đặc điểm âm phía sau của khối (Hình 4) có thể hoặc không thể thấy khi siêu âm các khối đặc của vú. Bóng cản âm phía sau là một dấu hiệu nghi ngờ ác tính và có thể thấy trong các trường hợp ung thư biểu mô xâm lấn, sẹo sau phẫu thuật, tổn thương xơ cứng hỗn hợp, hoặc vôi hóa thô đại có thể nhìn ngay cả ở những bệnh nhân có mô vú dày đặc. Tăng âm phía sau là một dấu hiệu siêu âm bất định có thể liên quan đến nhiều thực thể, bao gồm các cấu trúc giải phẫu bình thường, nang đơn thuần, nang biến chứng, u xơ tuyến, hạch xơ hóa, u nhú, khối dạng nang phức hợp, ung thư biểu mô ống xâm lấn, và u lympho. Về mặt kỹ thuật, tăng âm phía sau có thể khó đánh giá khi sử dụng phương pháp tạo ảnh tổ hợp đa hướng (compound imaging); và khi nghi nhờ, điều quan trọng là vô hiệu hóa chức năng tạo ảnh tổ hợp đa hướng để đánh giá các đặc điểm âm phía sau khối.

4aHình 4a

4bHình 4b

Hình 4 a, b. Đặc điểm âm phía sau. Các tính chất âm phía sau có thể là hoặc không phải là đặc điểm của khối đặc trên siêu âm. (a) Tăng âm phía sau (mũi tên) là một dấu hiệu siêu âm bất định (mập mờ) và trong trường hợp này là u xơ tuyến. (b) Bóng cản âm phía sau (mũi tên) là một dấu hiệu nghi ngờ ác tính thường thấy với ung thư biểu mô xâm lấn và trong trường hợp này là ung thư biểu mô ống xâm lấn.

5. Đánh giá xếp loại cuối cùng
BI-RADS 0 (Chưa hoàn thành)
Mặc dù phân loại BI-RADS 0 thường được sử dụng khi sàng lọc x quang vú, nó ít thích hợp với siêu âm, một phương pháp thường hoàn thành việc đánh giá chẩn đoán. Tuy nhiên, trong một số hoàn cảnh, các phương pháp chẩn đoán hình ảnh thêm vào như chụp cộng hưởng từ có thể cần thiết trước khi đưa ra đánh giá cuối cùng. Thí dụ, như đã được gợi ý trong tập ảnh BI-RADS của ACR (hiệp hội điện quang Mỹ), để phân biệt giữa sẹo và tái phát ung thư ở vị trí cắt khối có thể cần chụp thêm cộng hưởng từ ngoài x quang và siêu âm (1). Có các mô hình thực hành khác nhau trong việc sử dụng loại 0 gắn với lời khuyên chụp cộng hưởng từ sau đánh giá chẩn đoán x quang và/hoặc siêu âm. Lúc này, bác sỹ điện quang có trách nhiệm đưa ra thông tin rõ ràng về theo dõi chẩn đoán hình ảnh thêm vào cho bác sỹ lâm sàng.
BI-RADS 1 (Âm tính)
Nếu siêu âm không thấy bất thường thì có thể ấn định là BI-RADS loại 1, giả định rằng không có dấu hiệu nghi ngờ nào được phát hiện bằng chụp x quang vú. Các dấu hiệu âm tính khi siêu âm không loại trừ ung thư vú trong bối cảnh có một dấu hiệu x quang vú nghi ngờ; và cuối cùng việc phân loại BI-RADS nên dựa vào các dấu hiệu x quang và siêu âm vú. Nếu bệnh nhân đang được đánh giá có một bất thường có thể sờ thấy và các dấu hiệu của cả siêu âm và x quang vú đều âm tính, thì báo cáo nên nhấn mạnh tầm quan trọng của đánh giá lâm sàng và việc quản lý thêm nên dựa vào mức độ quan tâm hoặc lo ngại lâm sàng.
BI-RADS 2 (Lành tính)
Loại 2 được sử dụng khi các dấu hiệu đã được ghi nhận bằng tài liệu nhưng các kết quả đánh là giá âm tính với bệnh ác tính. Trong tập ảnh BI-RADS của ACR, đề xuất này được sử dụng cho các nang đơn thuần, cấy vú, các thay đổi sau phẫu thuật ổn định, và có thể cả các u xơ tuyến không thay đổi sau các lần siêu âm liên tiếp. Các hạch bạch huyết bình thường trong vú có thể được xếp là BI-RADS 1 hoặc 2.
BI-RADS 3 (Hầu như lành tính)
Như đã nêu trong từ vựng BI-RADS siêu âm, một khối đặc có bờ rõ, hình bầu dục, hướng song song với mặt da có thể được xếp là loại 3. Khối này có nguy cơ ác tính dưới 2% (1).
Việc áp dụng áp dụng siêu âm để theo dõi cách quãng các tổn thương đặc xếp loại BI-RADS 3 đang được đề cập ngày càng tăng trong y văn (5 – 7). Nghiên cứu khởi đầu liên quan tới siêu âm theo dõi cách quãng các tổn thương hầu như lành tính là nghiên cứu có tính bước ngoặt của Stavros và đồng sự (8), họ đã phát triển một hệ thống phân loại cho các khối đặc của vú được phát hiện trên siêu âm. Hệ thống phân loại của họ có độ nhạy 98.4% và giá trị dự báo âm tính 99,5% đối với tổn thương ác tính. Trong một số nghiên cứu khác, các nhà điều tra đã phân tích và đánh giá tính hữu ích của các dấu hiệu siêu âm trong việc phân biệt giữa tổn thương lành tính với ác tính, và đã ghi nhận các giá trị dự báo dương tính và âm tính của các dâu hiệu siêu âm (Bảng 3) (9,11,12). Sau khi từ vựng BI-RADS cho siêu âm đã công bố, Hong và cộng sự (9) đã cho thấy các khác biệt đáng kể của các từ mô tả siêu âm BI-RADS đối với các tổn thương lành tính và ác tính. Các từ mô tả siêu âm BI-RADS cho thấy giá trị dự báo cao đối với tổn thương lành tính bao gồm bờ rõ (90%), hướng song song (78%), và hình bầu dục (78%). Trong một phân tích tương tự, các đặc điểm có giá trị dự báo cao về tổn thương ác tính là hình dạng không đều (62%), bờ tua gai (86%), và hướng không song song (69%) (13).

Bảng 3 Giá trị dự báo dương tính và âm tính của các đặc điểm siêu âm

bang 3
Nguồn: tham khảo 9
NPV (Negative predictive value) giá trị dự báo âm tính
PPV (Positive predictive value) giá trị dự báo dương tính

Quyết định khoảng thời gian theo dõi ngắn đối với các tổn thương hầu như lành tính trên siêu âm là dựa vào việc theo dõi bằng x quang vú đối với sự ổn định ít nhất 2 năm đã được công nhận rộng rãi (14-18) ở các thời điểm 6, 12, 18 (không bắt buộc), và 24 tháng. Đánh giá vào thời điểm 12 tháng nếu thấy khối vẫn ổn định, người giám định có thể tùy chọn để khuyên theo dõi 6 tháng tiếp hoặc kéo dài khoảng cách lên 12 tháng, tổn thương vẫn phân loại là BI-RADS 3.
Các tổn thương được theo dõi bằng siêu âm khác với các tổn thương theo dõi bằng x quang vú. Trong khi một nhóm các chấm vôi hóa hầu như lành tính không được chờ đợi sẽ mất đi theo thời gian thì một khối nhỏ, giảm âm, hình bầu dục, bờ nhẵn trên siêu âm có thể là hậu quả của kích thích hormon và có thể thu nhỏ lại, hoặc thậm chí đã tiêu đi khi dùng các phương tiện chẩn đoán hình ảnh theo dõi. Ngoài ra, một bác sỹ điện quang khác có thể nhận định với độ tin cậy lớn hơn các đặc điểm mô tả lành tính hoặc ác tính của một khối ban đầu được diễn giải (đọc) là hầu như lành tính, và có thể đánh giá lại tổn thương thành phân loại khác (Hình 5, 6). Chương hướng dẫn trong từ vựng ACR (19) gợi ý rằng “với một báo cáo được diễn đạt đúng cách thì người đọc hiện tại có thể thay đổi đánh giá phân loại để cảm thấy thích hợp”. Mô hình theo dõi có thể thay đổi tại bất cứ thời điểm nào, bất chấp khuyến cáo BI-RADS 3 của bác sỹ điện quang để theo dõi trong khoảng thời gian ngắn, nếu bệnh nhân hoặc bác sỹ giới thiệu bệnh nhân quyết định rằng sinh thiết là thích hợp (Hình 7).

5aHình 5a

5bHình 5b

5cHình 5c

Hình 5 a, b, c. Cục máu tụ ở bệnh nhân nữ 45 tuổi bị chấn thương ngực trái mới đây. (a) Ảnh siêu âm ban đầu cho thấy một khối tương ứng (mũi tên). Nếu vị trí của chấn thương có tương quan với vị trí của khối phát hiện trên siêu âm thì nên nghi ngờ cục máu tụ, và khối này có thể xếp loại BI-RADS 3, với khoảng thời gian theo dõi ngắn. (b) Trên ảnh siêu âm 4 tuần sau đó, khối đã giảm kích thước (mũi tên). Mặc dù khối này ban đầu được xếp loại BI-RADS 4 (lúc ghi ảnh a), khi bệnh nhân trở lại sau 4 tuần để sinh thiết, thủ thuật đã được hoãn lại. Bệnh nhân được yêu cầu theo dõi tiếp 1 tháng. (c) Ảnh siêu âm 1 tháng sau cho thấy tổn thương (mũi tên) đã được đánh giá lại là BI-RADS 2. Mô tả BI-RDS khuyến cáo cho các dấu hiệu ở a là khối ở tạo vị trí chấn thương có bờ rõ với cấu trúc âm bên trong không đồng nhất, hướng song song: BI-RADS 3, khuyến cáo theo dõi ngắn hạn 4-6 tuần.

6aHình 6a

6bHình 6b

Hình 6 a, b. Khối có thể sờ thấy ở vú trái bệnh nhân nữ 70 tuổi. (a) Ảnh siêu âm ban đầu cho thấy khối (mũi tên) được xếp loại BI-RADS 3, hầu như lành tính. (b) Ảnh siêu âm theo dõi 6 tháng sau, mặc dù các dấu hiệu của khối ổn định (mũi tên), nhưng người giám định khác đã xếp loại khối là BI-RADS 4 và khuyên sinh thiết. Nghiên cứu mô học phát hiện ung thư biêu mô ống xâm lấn kích thước 4mm. Dựa vào tuổi của bệnh nhân và hướng của tổn thương không song song, lẽ ra nên khuyên sinh thiết ngay từ đánh giá lần đầu. Mô tả BI-RADS khuyến cáo cho các dấu hiệu nhìn thấy ở hình a là khối giảm âm có hình bầu dục, bờ rõ, và hướng không song song: BI-RADS 4B.

7

Hình 7. “Khối chia thùy, BI-RADS 3” ở nữ 40 tuổi với khối vú trái có giới hạn rõ được phát hiện trên x quang vú. Ảnh siêu âm cho thấy khối (mũi tên) đã được mô tả là “chia thùy”, một thuật ngữ không phải là từ mô tả siêu âm BI-RADS. Tổn thương có dưới 3 lượn sóng (chỗ nhấp nhô) và do đó có thể mô tả như là khối hình bầu dục. Mặc dù phân loại BI-RADS 3, nhưng sinh thiết lõi bằng kim lớn đã được thực hiện do yêu cầu của bệnh nhân và bác sỹ lâm sàng. Chẩn đoán mô học là u xơ tuyến. Mô tả BI-RADS khuyến cáo trong trường hợp này là khối giảm âm có hình bầu dục, bờ rõ, bề mặt chuyển tiếp đột ngột, và hướng song song: BI-RADS 3.

BI-RADS 4 (Bất thường nghi ngờ)
Loại BI-RADS 4 được ấn định cho các tổn thương nghi ngờ có khuyến cáo sinh thiết. Loại này có mức độ bất định lớn và rất khác nhau về kết cục, các tổn thương có xác suất ác tính xấp xỉ 3% – 94%. Do đó, trong tập ảnh BI-RADS của ACR hiện nay khuyến cáo chia nhỏ loại 4 thành ba phân nhóm (4A, 4B, và 4C) để thông tin tốt hơn cho bác sỹ gửi bệnh nhân và bác sỹ bệnh học về mức độ quan tâm. Các phân nhóm này cũng dùng để hoàn thành kiểm định nội bộ nhiều thông tin hơn, cải thiện tương quan bệnh học – điện quang, và cải thiện nghiên cứu [định hướng] theo ảnh (image-directed research).
Loại 4A chỉ định các tổn thương có mức độ nghi ngờ thấp về bệnh ác tính. Đối với nhóm này, một chẩn đoán bệnh học lành tính được kỳ vọng và nên xem là phù hợp. Bác sỹ điện quang có thể tính đến những khối đặc có các đặc điểm lành tính (thí dụ, u xơ tuyến) trong loại này nếu trên lâm sàng tổn thương có thể sờ thấy. Các nang biến chứng và một số nang phức hợp và những khối đặc (thí dụ, áp xe rõ trên lâm sàng) cũng được tính vào nhóm này (Hình 8). Loại 4B là thích hợp đối với các tổn thương được xem là có mức độ nghi ngờ trung gian về bệnh ác tính (Hình 9)(5). Theo dõi và tương quan của các kết quả bệnh học có tầm quan trọng nhất trong nhóm này bởi vì các loại tổn thương có thể được phân phối khá đều giữa ác tính và lành tính. Loại 4C được sử dụng cho các tổn thương có mức độ nghi ngờ vừa phải về bệnh ác tính nhưng không có dấu hiệu kinh điển của bệnh ác tính. Các kết quả ác tính được kỳ vọng khi sinh thiết, một kết quả lành tính được xem là không phù hợp (19).

8a

Hình 8. BI-RADS 4A ở một phụ nữ 55 tuổi xuất hiện một khối có thể sờ thấy và sưng lên ở vú trái. Ảnh siêu âm cho thấy khối tương ứng giảm âm (mũi tên). Phẫu thuật sau đó bộc lộ nang bị vỡ. Đánh giá BI-RADS 4 bao gồm một khoảng rộng các phát hiện bệnh học, từ u xơ tuyến lành tính tới ung thư biểu mô xâm lấn. Phân loại nhỏ hơn thành 4A, 4B, và 4C được khuyến cáo để thiết lập mức độ quan tâm và kỳ vọng về loại mô học sẽ xuất hiện. Mô tả BI-RADS khuyến cáo là khối giảm âm, hình bầu dục, bờ có phần không rõ, hướng song song, và bóng tăng âm nhẹ phía sau: BI-RADS 4A.

9aHình 9a

9bHình 9b

Hình 9 a, b. BI-RADS 4B. (a) Ảnh siêu âm cho thấy một khối giảm âm (mũi tên) ở một phụ nữ 47 tuổi có mật độ vú phải không rõ ràng trong một phim vú sàng lọc (không trình bày). Kết quả mô học sinh thiết lõi bằng kim to là ung thư biểu mô ống tại chỗ (DCIS). Sự phù hợp bệnh học là rất quan trọng đối với các tổn thương loại 4B, biết rằng cả tổn thương lành tính và ác tính có tỷ lệ ngang nhau trong phân nhóm này. Mô tả BI-RADS khuyến cáo là khối giảm âm, hình dạng không đều, bờ không rõ, cấu trúc âm bên trong không đồng nhất, và hướng song song: BI-RADS 4B. (b) Một phụ nữ 68 tuổi đã cắt khối vú phải và xạ trị 15 năm trước, bây giờ có biểu hiện không cân xứng khu trú tăng lên khi chụp x quang vú (không trình bày), ảnh siêu âm bộc lộ một khối giảm âm, hình dạng không đều (mũi tên), bờ không rõ, cấu trúc âm bên trong không đồng nhất. Kết quả mô học của sinh thiết lõi bằng kim to dưới hướng dẫn siêu âm là hoại tử mỡ, kết quả này được xem là không phù hợp. Sinh thiết lại kết quả tương tự, và bệnh nhân có các vị trí khác cũng bị hoại tử mỡ. Khi theo dõi, khối ổn định trong 18 tháng. Mô tả BI-RADS khuyến cáo là khối giảm âm, hướng không song song, hình bầu dục, bờ không rõ, và cấu trúc âm bên trong không đồng nhất: BI-RADS 4B (Hình 9a được in lại với sự cho phép từ tham khảo 5).
BI-RADS 5 (Rất gợi ý ác tính)
BI-RADS 5 được dành cho các các dấu hiệu hầu như luôn luôn tiêu biểu cho ung thư vú, với khả năng ác tính trên 95% (Hình 10) (19).

10

Hình 10. BI-RADS 5 ở một phụ nữ 59 tuổi có khối không đều, bờ tua gai nhìn thấy trên x quang vú. Ảnh siêu âm cho thấy một khối tương ứng (mũi tên). Kết quả mô học của sinh thiết lõi bằng kim lớn là một nang lớn có dị sản vẩy (squamous metaplasia), kết quả này không phù hợp. Định vị (bằng) dây kim loại khi sinh thiết đã phát hiện một tổn thương xơ cứng phức hợp và hạch xơ cứng (sclerosing adenosis). Đối với các khối được phân loại BI-RADS 5, nên khuyên cắt bỏ bất kể kết quả sinh thiết lõi không thấy ác tính. Mô tả BI-RADS khuyến cáo trường hợp này là khối giảm âm có hình dạng không đều, bờ không rõ, hướng không song song, và bóng cản âm phía sau: BI-RADS 5.

BI-RADS 6 (Ung thư đã biết)
Đối với tổn thương ác tính đã có bằng chứng, BI-RADS 6 có thể được ấn dịnh trước phẫu thuật hoặc điều trị bổ trợ khởi đầu (19).

6. Các thách thức kỹ thuật trong quá trình theo dõi bằng siêu âm
Căn cứ vào sự phụ thuộc người làm thì theo dõi bằng siêu âm sẽ có nhiều thách thức hơn x quang vú bởi vì những khó khăn trong việc nhận ra cùng một tổn thương trong những lần kiểm tra khác nhau. Với mục đích theo dõi chính xác thì điều chủ chốt là tài liệu về kích thước và vị trí của tổn thương phải nhất quán và đầy đủ. Mô tả kích thước của tổn thương nên có sự định hướng của đầu dò khi đo (ngang, dọc, xuyên tâm hay đường trực giao với nó – radial or antiradial). Vị trí cụ thể bao gồm bên (vú phải hoặc vú trái), định vị theo mặt đồng hồ, khoảng cách từ núm vú cần được chú thích chính xác trên các ảnh và tài liệu trong các báo cáo (Hình 11).

11

Hình 11. Chú thích đúng trên ảnh siêu âm. Mô tả một tổn thương bao gồm bên (vú phải hoặc trái), định vị theo mặt đồng hồ (ánh chừng ở 10 giờ [10:00]). khoảng cách từ núm vú (trình bày là N+ 3-4cm) và hướng của đầu dò (xuyên tâm [Rad], antiRad, ngang, dọc).
Khi sử dụng siêu âm đánh giá một phát hiện của x quang vú thì điều quan trọng là đảm bảo sự tương quan về vị trí và thể hiện hình ảnh giữa x quang và siêu âm vú (Hình 12). Sự tương quan như vậy là thử thách thực sự ở những bệnh nhân có kích thước vú lớn hoặc có nhiều tổn thương
Nếu không rõ phát hiện siêu âm có liên quan với phát hiện x quang vú hay không thì đặt một cái đánh dấu bằng kim loại lên tổn thương khi siêu âm rồi chụp một phim x quang để xác định vị trí của tổn thương trên phim xquang so với mốc đánh dấu. Trong một số trường hợp, người ta có thể xuyên kim (hoặc dây kim loại) qua tổn thương dưới hướng dẫn siêu âm rồi chụp phim x quang để bộc lộ mối tương quan của các phát hiện. Dù sử dụng kỹ thuật nào, chú ý đặc biệt tới các bẫy tiềm tàng này có thể tránh ấn định sai sót loại BI-RADS 2 hoặc 3 trên cơ sở các đặc điểm lành tính của một tổn thương ngoài tổn thương x quang vú nghi ngờ ra, và có thể tránh sinh thiết lại khi đã sinh thiết sai tổn thương dưới hướng dẫn siêu âm, tổn thương phát trên x quang vú lại không sinh thiết.

12aHình 12a

12bHình 12b

12cHình 12c

Hình 12 a, b, c. Tầm quan trọng của tương quan vị trí giữa siêu âm và phim x quang vú. (a) Phim x quang sàng lọc vú chụp chếch trong-ngoài của một phụ nữ 69 tuổi cho thấy một dấu hiệu không đối xứng khu trú 9m (mũi tên) ở vú trái. Siêu âm bộc lộ 2 hạch bạch huyết bình thường trong vú: một ở vị trí 2 giờ cách núm vú 20cm, và một ở vị trí 3 giờ cách núm vú 7cm. (b) Ảnh siêu âm cho thấy hạch bạch huyết thứ ba bình thường ở trong vú (mũi tên) vị trí 3 giờ cách núm vú 20cm. Hạch thứ ba này được cho là tương ứng với dấu hiệu không cân xưng khú trú của phim x quang vú, và bệnh nhân được khuyến cáo theo dõi 6 tháng. (c) Phim x quang vú theo dõi cho thấy bất thường không đối xứng khu trú đó đã tăng kích thước (mũi tên). Sinh thiết được thực hiện bằng định vị dây kim loại và phẫu thuật. Kết quả mô học là ung thư biểu mô xâm lấn có các tính chất ống và tiểu thùy. Khi hồi cứu, bờ của khối ở trong ảnh a là không rõ và không có giới hạn nhất định, một dấu hiệu không tương quan với hạch bạch huyết ở ảnh b.

Sự thành công của mẫu hình đánh giá “hầu như lành tính” dựa vào giả thiết rằng các bệnh nhân sẽ quay trở lại để theo dõi hình ảnh. Goodman và đồng sự (20) đã báo cáo 54% quay trở lại theo dõi bằng hình ảnh theo yêu cầu sau khi có kết quả sinh thiết định vị lành tính. Mặc dù nghiên cứu này của Goodman và đồng sự khảo sát việc theo dõi bệnh nhân sau sinh thiết đúng hơn là theo dõi bệnh nhân có các tổn thương BI-RADS 3 trên siêu âm. Raza và đồng sự (5) đã nghiên cứu riêng biệt việc theo dõi các tổn thương BI-RADS 3 và báo cáo rằng 82,6% bệnh nhân được khuyên theo dõi bằng siêu âm đã có tài liệu ghi nhận ổn định về mặt hình ảnh. Sự khác biệt về tỷ lệ chấp thuận theo dõi này đáng quan tâm, và tỷ lệ chấp hành thấp hơn đối với nhóm sau sinh thiết có thể phản ánh sự thực rằng các bệnh nhân đã thỏa mãn với kết quả sinh thiết lành tính và ít quan tâm đến việc quay trở lại theo dõi bằng phương pháp chẩn đoán hình ảnh.

Các thách thức trong ấn định đánh giá phân loại cuối cùng và ảnh hưởng của các yếu tố lâm sàng
Trong thực hành, như đã được Stavros và đồng sự (8) nêu ra rằng tồn tại sự khác nhau của các bác sỹ điện quang trong việc quản lý một tổn thương có đủ các tiêu chuẩn “hầu như lành tính”. Những mâu thuẫn này đã có thể thấy rõ ràng hơn khi số liệu ban đầu nổi bật lên để ủng hộ việc theo dõi ngắn hạn thay vì sinh thiết trong những trường hợp đó, và hiện nay các mâu thuẫn có thể giảm đi do có nhiều số liệu hơn về chủ đề này. Tuy vậy, một số nhà điện quang vẫn dao động trong việc khuyến cáo theo dõi ngắn hạn bởi vì lo ngại làm chậm trễ chẩn đoán một ung thư tiềm tàng. Nếu một tổn thương phù hợp với tất cả các tiêu chuẩn “hầu như lành tính” (hình bầu dục, bờ giới hạn rõ, và hướng song song), nó có thể được xếp loại BI-RADS 3 một cách tin cậy (Hình 1b).
Đối với một tổn thương có các đặc điểm lành tính, những số liệu nổi bật cho rằng theo dõi ngắn hạn là lựa chọn hợp lý (5-7). Nếu sau khi thảo luận thêm với bác sỹ gửi bệnh nhân hoặc bệnh nhân mà bệnh nhân vẫn mong muốn sinh thiết tổn thương thì chúng ta nên thay đổi xếp loại BI-RADS và khuyến cáo. Mặc dù số liệu ủng hộ việc theo dõi ngắn hạn các tổn thương “hầu như lành tính”, nhưng một yếu tố lâm sàng quan trọng ảnh hưởng đến đánh giá phân loại BI-RADS là tuổi của bệnh nhân. Đối với một bệnh nhân nhiều tuổi thì ngưỡng sinh thiết nên hạ thấp xuống, và có thể cho phép sinh thiết ngay trong bối cảnh có các đặc điểm hình ảnh hầu như lành tính (Hình 6).
Trong giảng dạy thông thường, sinh thiết được khuyến cáo chỉ định đối với bất cứ khối nào có thể sờ thấy. Cho dù có các đặc điểm lành tính trên siêu âm, các khối đặc có thể sờ thấy thường được sinh thiết (21-23) dẫn tới một số lượng lớn các kết quả sinh thiết lành tính và gây tổn thất cả tài chính và tâm lý (24-27). Tiêu chuẩn chẩn đoán hình ảnh x quang vú tổn thương hầu như lành tính được công nhận giá trị lần đầu tiên, bởi các kết quả nghiên cứu bao gồm chủ yếu các phụ nữ không triệu chứng có các khối đặc không sờ thấy được phát hiện qua sàng lọc xquang vú (14-18,28). Số liệu gần đây ủng hộ thực tế là một khối đặc không cần phải sinh thiết đối với những trường hợp có lý do đơn giản chỉ vì khối có thể sờ thấy. Năm 2004, Graft và đồng sự (6) nghiên cứu các khối đặc sờ thấy có giới hạn rõ được đánh giá là hầu như lành tính trên phim x quang vú và siêu âm, họ không phát hiện tổn thương nào ác tính trong nhóm 157 khối theo dõi. Raza và đồng sự (5) cho thấy rằng các tổn thương có hình thái siêu âm lành tính thì giá trị sự báo âm tính lớn hơn 99% (3 ung thư trong tổng số 356 tổn thương BI-RADS 3). Đối với các khối sờ thấy có các đặc điểm hình ảnh lành tính thì khoảng giá trị dự báo âm tính đã báo cáo là 97,4% – 10% (Bảng 4) (5 – 8,29 – 32). Do đó có vẻ hợp lý nếu quản lý các tổn thương có đặc điểm hình ảnh lành tính bằng theo dõi ngắn hạn hơn là sinh thiết (33). Tuy nhiên, cần phải có các nghiên cứu đa trung tâm với số lượng bệnh nhân lớn hơn để công nhận giá trị của theo dõi ngắn hạn với các khối sờ thấy có các đặc điểm siêu âm lành tính.

Bảng 4: Điểm lại y văn các nghiên cứu giá trị dự báo âm tính (NPV) của siêu âm

bang 4

Mặc dù chúng tôi gợi ý rằng các đặc điểm hình ảnh “hầu như lành tính” nên bỏ qua các yếu tố lâm sàng trong một số trường hợp, một số tính huống khác trong đó các yếu tố lâm sàng lại quan trọng hơn hình ảnh của tổn thương. Áp xe thường biểu hiện cấu trúc hỗn hợp âm bên trong và có thể không phân biệt với ung thư biểu mô xâm lấn (Hình 13). Tuy nhiên, trong bối cảnh lâm sàng thích hợp (bệnh nhân trẻ đang chế tiết sữa có các dấu hiệu lâm sàng của nhiễm khuẩn và một khối mềm có thể sờ thấy) thì khả năng ác tính là thấp. Tình huống lâm sàng này biểu hiện thách thức khi ấn định phân loại BI-RADS và có sự khác nhau trong báo cáo sử dụng dụng từ vụng BI-RADS siêu âm. Bởi vì một khối áp xe không phải là tổn thương ác tính, một số bác sỹ điện quang có thể phân loại nó là tổn thương BI-RADS 3 với khuyến cáo theo dõi cụ thể. Tuy nhiên, như đã được gợi ý trong chương hướng dẫn BI-RADS, chúng ta phân loại các áp xe rõ ràng về lâm sàng là loại 4A, điển hình thì việc chọc hút sẽ được thực hiện rồi bệnh phẩm được gửi đi cấy và kiểm định độ nhậy (34).

13aHình 13a

13bHình 13b

Hình 13 a, b. Áp xe ở phụ nữ 27 tuổi có một khối có thể sờ thấy rất mềm dưới quầng vú phải, sốt 2 ngày. (a) Ảnh siêu âm cho thấy khối phức hợp đặc và nang (mũi tên) ở vùng dưới quầng vú. (b) Ảnh siêu âm Doppler chp thấy tình trạng có mạch máu trong các thành phần đặc (mũi tên). mặc dù các đặc điểm siêu âm là nghi ngờ, khối này trong bối cảnh lâm sàng thích hợp ở đây rất gợi ý một áp xe. Mô tả BI-RADS khuyến cáo là khối hình bầu dục có cấu trúc âm bên trong hỗn hợp, bờ có phần không rõ ràng, hướng song song: BI-RADS 4A, khuyến cáo chọc hút trong bối cảnh lâm sàng hầu như chắc chắn áp xe.

Thách thức nữa của việc sử dụng đánh giá BI-RADS siêu âm là quản lý và khuyến cáo liên quan đến các tổn thương do chấn thương. Trong giai đoạn ngắn sau chấn thương vú, một khối nằm ở vị trí chấn thương có thể là khối máu tụ hoặc hoại tử mỡ. Những thực thể hỗn hợp không đồng nhất này có thể không phân biệt được với nhau và với ung thư biểu mô. Một khối máu tụ thường biểu hiện như là khối có cấu trúc tăng âm bên trong chiếm ưu thế, không đồng nhất, và trở nên giảm âm và nhỏ đi theo thời gian (Hình 5).
Nếu siêu âm theo dõi thấy khối giảm dần kích thước và các đặc điểm siêu âm lành tính vẫn ổn định thì đánh giá phân loại cuối cùng có thể thay đổi thành BI-RADS 2.
Hoại tử mỡ (Hình 14) biểu hiện một loạt các hình ảnh siêu âm, bao gồm một khối đặc, một khối nang hỗn hợp có nốt bám thành trong, một khối dạng nang phức hợp có các dải tăng âm, hoặc một khối trống âm (10). Sự tương quan với x quang vú có thể chẩn đoán nếu một nang dầu, hoặc khối thấu xạ (radiolucent mass), có hoặc không có các nốt vôi hóa thô đại, được phát hiện tương ứng với phát hiện siêu âm.

14

Hình 14. Hoại tử mỡ. Ảnh siêu âm trong bối cảnh sau chấn thương cho thấy một khối tăng và giảm âm hỗn hợp (mũi tên) có thể là hoại tử mữ. Có sự biến đổi trong đánh giá BI-RADS và các khuyến cáo. Mô tả BI-RADS khuyến cáo là khối hình bầu dục được giới hạn rõ, cấu trúc bên trong không đồng nhất, hướng song song ở vị trí chấn thương trước đó: BI-RADS 3.

Như thực trạng của tất cả các phương pháp chẩn đoán hình ảnh vú, chúng ta phải lưu tâm đánh giá đầy đủ các đặc điểm của một khối đặc, với ấn định sự nghi ngờ dựa vào dấu hiệu gây lo ngại nhất. Như thấy trong Hình 15 (5), khối có các đoạn bờ tròn giới hạn rõ chiếm ưu thế, nhưng bờ phía sau lại gấp góc, và sinh thiết được khuyến cáo, chẩn đoán là ung thử biểu mô ống thâm nhiễm kết hợp với ung thư biểu mô ống tại chỗ.

15

Hình 15. Ảnh siêu âm của một phụ nữ 50 tuổi có khối có thể sờ thấy (mũi tên) ở vú phải. Mặc dù bờ trước được giới hạn rõ, bờ sau có góc. Một khối phải được quản lý dựa trên cơ sở đặc điểm lo ngại nhất. Kết quả mô học là ung thử biểu mô ống thâm nhiễm kết hợp với ung thư biểu mô ống tại chỗ.

——————————
Dịch từ:
US of Breast Masses Categorized as BI-RADS 3, 4, and 5: Pictorial Review of Factors Influencing Clinical Management
Sughra Raza, MD, Allison L. Goldkamp, MD, Sona A. Chikarmane, MD and Robyn L. Birdwell MD
September 2010 RadioGraphics, 30, 1199-1213.

Bài này tổng hợp các yếu tố hình ảnh siêu âm có ảnh hưởng tới quản lý lâm sàng khối vú. Mặc dù các thuật ngữ siêu âm dựa vào BIRADS xuất bản lần thứ nhất, nhưng các tác giả có bàn luận rõ về cách phân loại 4A, 4B, 4C hiện nay được áp dụng cho lần xuất bản mới nhất (bản 2013).

Các tác giả bài báo đã được nhận bằng khen trong triển lãm giáo dục hàng năm của RSNA năm 2008.
———————-
Bài dịch để cập nhật kiến thức, các từ khóa trong bài chưa được chuẩn hóa tiếng Việt.
———————-

Chỉ số kappa = 1 ngụ ý sự tương đồng hoàn hảo và = 0 gợi ý sự tương đồng không cao hơn kết quả do ngẫu nhiên. Không có tiêu chuẩn khách quan để phán xét các giá trị ở giữa 0 và 1. Tuy nhiên, kappa thường được tính để đánh giá mức độ tương đồng là:
• kém (poor) nếu < 0.20
• thấp (fair) nếu 0.21 – 0.4
• trung bình (moderate) nếu 0.41 – 0.60
• khá (substantial) nếu 0.61 – 0.80
• tốt (good) nếu > 0.80

Theo Landis, J.R. & Koch, G.G. (1977) The measurement of observer agreement for categorical data. Biometrics, 33,159-174.
———————-
Table 1 BI-RADS US Assessment Categories

Table 2 BI-RADS US Descriptors

Tham khảo trong bài
1. American College of Radiology
BI-RADS®—Ultrasound. 1st ed. In: Breast Imaging Reporting and Data System (BI-RADS) atlas. 4th ed. Reston, Va: American College of Radiology, 2003.
2. Berg WA, Blume JD, Cormack JB, Mendelson EB
Operator dependence of physician-performed whole-breast US: lesion detection and characterization. Radiology 2006;241(2):355–365.
3. Lazarus E, Mainiero MB, Schepps B, Koelliker SL, Livingston LS
BI-RADS lexicon for US and mammography: interobserver variability and positive predictive value. Radiology 2006;239(2):385–391.
4. Abdullah N, Mesurolle B, El-Khoury M, Kao E
Breast Imaging Reporting System Data lexicon for US: interobserver agreement for assessment of breast masses. Radiology 2009;252(3):665–672.
5. Raza S, Chikarmane SA, Neilsen SS, Zorn LM, Birdwell RL
BI-RADS 3, 4, and 5 lesions: value of US in management—follow-up and outcome. Radiology 2008;248(3):773–781.
6. Graf O, Helbich TH, Fuchsjaeger MH, et al
Follow-up of palpable circumscribed noncalcified solid breast masses at mammography and US: can biopsy be averted? Radiology 2004;233(3):850–856.
7. Mainiero MB, Goldkamp A, Lazarus E, et al
Characterization of breast masses with sonography: can biopsy of some solid masses be deferred? J Ultrasound Med 2005;24(2):161–167.
8. Stavros AT, Thickman D, Rapp CL, Dennis MA, Parker SH, Sisney GA
Solid breast nodules: use of sonography to distinguish between benign and malignant lesions. Radiology 1995;196(1):123–134.
9. Hong AS, Rosen EL, Soo MS, Baker JA
BI-RADS for sonography: positive and negative predictive values of sonographic features. AJR Am J Roentgenol 2005;184(4):1260–1265.
10. Soo MS, Kornguth PJ, Hertzberg BS
Fat necrosis in the breast: sonographic features. Radiology 1998;206(1):261–269.

11. Costantini M, Belli P, Lombardi R, Franceschini G, Mulè A, Bonomo L
Characterization of solid breast masses: use of the sonographic Breast Imaging Reporting and Data System lexicon. J Ultrasound Med 2006;25(5):649–659.
12. Rahbar G, Sie AC, Hansen GC, et al
Benign versus malignant solid breast masses: US differentiation. Radiology 1999;213(3):889–894.
13. Berg WA. Part IV. Diagnoses. Birdwell RL, Gombos E, et al. Section 0. In: Berg WA,Birdwell RL, Gombos E, et al. Diagnostic imaging: breast. Salt Lake City, Utah: Amirsys, 2006; 10–13.
14. Sickles EA
Periodic mammographic follow-up of probably benign lesions: results in 3,184 consecutive cases. Radiology 1991;179(2):463–468.
15. Varas X, Leborgne F, Leborgne JH
Nonpalpable, probably benign lesions: role of follow-up mammography. Radiology 1992;184(2):409–414.
16. Vizcaíno I, Gadea L, Andreo L, et al
Short-term follow-up results in 795 nonpalpable probably benign lesions detected at screening mammography. Radiology 2001;219(2):475–483.
17. Varas X, Leborgne JH, Leborgne F, Mezzera J, Jaumandreu S, Leborgne F
Revisiting the mammographic follow-up of BI-RADS category 3 lesions. AJR Am J Roentgenol 2002;179(3):691–695.
18. Sickles EA
. Management of probably benign breast lesions. Radiol Clin North Am 1995;33(6):1123–1130.
19. American College of Radiology
BI-RADS®—Mammography. In: Breast Imaging Reporting and Data System (BI-RADS) atlas. 4th ed. Reston, Va: American College of Radiology, 2003.
20. Goodman KA, Birdwell RL, Ikeda DM
Compliance with recommended follow-up after percutaneous breast core biopsy. AJR Am J Roentgenol 1998;170(1):89–92.
21. Donegan WL
Evaluation of a palpable breast mass. N Engl J Med 1992;327(13):937–942.
22. Sickles EA, Parker SH
Appropriate role of core breast biopsy in the management of probably benign lesions [editorial]. Radiology 1993;188(2):315.
23.Dawson AE, Mulford DK, Taylor AS, Logan-Young W
Breast carcinoma detection in women age 35 years and younger: mammography and diagnosis by fine-needle aspiration cytology. Cancer 1998;84(3):163–168.
24. Lindfors KK, O’Connor J, Acredolo CR, Liston SE
Short-interval follow-up mammography versus immediate core biopsy of benign breast lesions: assessment of patient stress. AJR Am J Roentgenol 1998;171(1):55–58.
25. Lindfors KK, Rosenquist CJ
Needle core biopsy guided with mammography: a study of cost-effectiveness. Radiology 1994;190(1):217–222.
26. Brenner RJ, Sickles EA
Surveillance mammography and stereotactic core breast biopsy for probably benign lesions: a cost comparison analysis. Acad Radiol 1997;4(6):419–425.
27. Witek-Janusek L, Gabram S, Mathews HL
Psychologic stress, reduced NK cell activity, and cytokine dysregulation in women experiencing diagnostic breast biopsy. Psychoneuroendocrinology 2007;32(1):22–35.
28. Helvie MA, Pennes DR, Rebner M, Adler DD
Mammographic follow-up of low-suspicion lesions: compliance rate and diagnostic yield. Radiology 1991;178(1):155–158.

29. Soo MS, Rosen EL, Baker JA, Vo TT, Boyd BA
Negative predictive value of sonography with mammography in patients with palpable breast lesions. AJR Am J Roentgenol 2001;177(5):1167–1170.
30. Dennis MA, Parker SH, Klaus AJ, Stavros AT, Kaske TI, Clark SB
Breast biopsy avoidance: the value of normal mammograms and normal sonograms in the setting of a palpable lump. Radiology 2001;219(1):186–191.
31. Shetty MK, Shah YP
Prospective evaluation of the value of negative sonographic and mammographic findings in patients with palpable abnormalities of the breast. J Ultrasound Med 2002;21(11):1211–1219.
32. Moy L, Slanetz PJ, Moore R, et al
Specificity of mammography and US in the evaluation of a palpable abnormality: retrospective review. Radiology 2002;225(1):176–181.
33. Leung JW, Sickles EA
The probably benign assessment. Radiol Clin North Am 2007;45(5):773–789, vi.
34. Berg WA. Part IV. Diagnoses. Section 6. Infections and inflammation. In: Berg WA, Birdwell RL, Gombos E, et al. Diagnostic imaging: breast. Salt Lake City, Utah: Amirsys, 2006; 2–5.

Để lại bình luận

9 phản hồi

  1. Bài viết hay và dịch tốt, xin cám ơn.

    Trả lời
  2. nguyễn văn giáp

     /  10.12.2015

    chào bác sỹ
    em làm trong nghành răng hàm mặt tại thái nguyên
    em muốn xin email của bác sỹ để hỏi một số câu hỏi được không ạ
    email của em là: giapnguyentn@gmail,com
    rất mong bác sỹ reply vào email của em ạ
    trân trọng

    Trả lời
  3. chi

     /  02.01.2016

    Em cảm ơn Thầy. Một bài dịch đã giúp em có những kiến thức cơ bản nhất để phân loại BIRADS các tổn thương vú.
    Em Trần Quang Chí, vừa tốt nghiệp CKI CĐHA Phạm Ngọc Thạch.
    Khi nào Thầy có thời gian, Thầy có thể dịch bài về TI-RADS được không ạ.

    Trả lời
    • Chào bạn,
      Dạo nay tôi bận việc nên không soạn bài mới. Phần TI-RADS tôi chưa có ý định dịch. Xin lỗi đã chậm trả lời bạn nhé! (tôi là bác sỹ, không giảng dạy đâu bạn ơi).

      Trả lời
      • Sang

         /  22.10.2016

        bác sĩ cho em hỏi khi chụp x quang kết quả cho thấy
        bi-rads 0…
        bi-rads 1….
        bi-rads 2…
        bi-rads 3…
        bi-rads 4…
        bi-rads 5….
        thì tỉ lệ ung thư cao không bác sĩ, em cảm ơn

      • Chào bạn,
        Tỉ lệ ung thư vú tăng theo phân độ BIRADS bạn ạ. Chắc bạn biệt rằng chụp Xquang vú chỉ dự báo được tỉ lệ ung thư vú, còn để xác định ung thư vú thì bệnh nhân cần sinh thiết. Tuy nhiên sinh thiết có một số tai biến và là phương pháp xâm phạm cơ thể nên chỉ những bệnh nhân nghi ngờ có tổn thương ác tính thì mới có chỉ định sinh thiết (BIRADS 4, 5). Còn những bn có BIRADS từ 3 trở xuống được theo dõi thông thương bằng hình ảnh thôi. Đó chính là mục đích của phân loại BIRADS để tránh sinh thiết (chẩn đoán xâm phạm cơ thể bn) không cần thiết. Lưu ý là BIRADS 0 có nghĩa là cần khảo sát thêm bằng phương pháp chẩn đoán hình khác. Theo một nghiên cứu (hay được trích dẫn) thì
        – phân loại BIRADS 0-3 có giá trị dự báo dương tính (PPV = positive predictive value) < 2%
        – phân loại BIRADS 4 có PPV là 30%
        – phân loại BIRADS 5 có PPV là 97%
        nói ngắn gọn thì PPV là tỉ lệ số người ung thư có kết quả Xq dương tính. Cụ thể trong nghiên cứu có các tỉ lệ đã dẫn ra ở trên thì:
        – phân loại BIRADS 0-3: xác định 5 tổn thương ung thư khi sinh thiết 206 tổn thương
        – phân loại BIRADS 4: xác định 279 tổn thương ung thư khi sinh thiết 935 tổn thương
        – phân loại BIRADS 5: xác định 165 tổn thương ung thư khi sinh thiết 170 tổn thương
        Bạn có thể thể tìm trên mạng và xem chi tiết trong bài này (miễn phí): Orel SG, Kay N, Reynolds C et-al. BI-RADS categorization as a predictor of malignancy. Radiology. 1999;211 (3): 845-50.

  4. Bội Tâm

     /  22.10.2016

    Chào BS. Em mới đi siêu âm, chẩn đoán:” vú phải có focal kém, giới hạn rõ, không vôi hoá, không tăng sinh mạch máu, vú trái tổn thương tương tự. Kết luận TỔN THƯƠNG 2 VÚ, BIRADS 3″
    Bs cho hỏi có ảnh hưởng sức khoẻ gì k ạ, có cần điều trị hay khắc phục gì k ạ?

    Trả lời
    • Chào chị, tôi nghĩ những người tư vấn tốt nhất cho chị là bác sỹ đã khám siêu âm và điều trị trực tiếp. Còn tổn thương 2 vú BIRADS 3 được coi là lành tính chị ạ, bác sỹ siêu âm sẽ ra lịch hẹn siêu âm lại cho chị (thường trong khoảng thời gian ngắn hơn so với người bình thường). Tôi không bình luận về điều trị và cách “khắc phục” chị ạ.

      Trả lời

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: