Các nang tuyến tiền liệt

Các nang và tổn thương dạng nang ở tuyến tiền liệt là những thực thể thường gặp trong siêu âm. Một nghiên cứu gần đây thấy tỷ lệ nang ở đường giữa tuyến tiền liệt phát hiện qua siêu âm đường ổ bụng là 7,6% ở những người không có triệu chứng, các nang này là những biến thể bình thường [1]. Với những bệnh nhân có triệu chứng tiết niệu sinh dục, phát hiện các nang ở tuyến tiền liệt cần được tập trung đánh giá xem nang gây triệu chứng hay chỉ là biến thể bình thường.

Các nang của tuyến tiền liệt (TTL) được xếp thành 6 nhóm: (1) các nang nhu mô, (2) các nang đường giữa biệt lập (thuộc ống Muller và túi bầu dục), (3) các nang của ống phóng tinh, (4) các ổ áp xe, (5) các khối u hóa nang, (6) các nang liên quan đến bệnh ký sinh trùng (sán máng) [2-4, 7].

Các nang phổ biến nhất là các nang nhu mô thoái hóa (parenchymal degenerative cyst) nằm trong các nhân tăng sản ở vùng chuyển tiếp. Những nang này không có ý nghĩa lâm sàng, nhưng đôi khi nang to có thể gây tắc nghẽn đường tiểu hoặc ống phóng tinh. Trường hợp điển hình, các nang chỉ có một ngăn hoặc nhiều ngăn có vách mỏng nằm trong một nhân tăng sản tuyến tiền liệt ở vùng chuyển tiếp (Hình 1).

 H10-8A

Hình 1. Nang nhu mô thoái hóa (parenchymal degenerative cyst) ở tuyến tiền liệt phì đại. Nang loại này phổ biến nhất ở tuyến tiền liệt phì đại. Chú ý sự không đối xứng rõ rệt của tuyến tiền liệt phì đại lành tính, vùng chuyển tiếp trái to hơn bên phải, vị trí không đối xứng của niệu đạo (U).

 

Các nang ứ đọng (retention cyst) là các ổ dịch khu trú, thường ở bề mặt tuyến tiền liệt do tắc ống dẫn. Điển hình các nang này nhỏ hơn 1 cm. Chúng có thể căng lên và khi thăm khám tuyến tiền liệt qua trực tràng có thể thấy như nốt cứng giả ung thư, nhưng siêu âm nốt xuất hiện là một nang điển hình. Các nang ứ đọng không có ý nghĩa lâm sàng, nhưng nếu có thể sờ thấy thì người ta sẽ hút chúng để khẳng định bản chất lành tính và tránh lo ngại về “nhân cứng” (Hình 2).

 H10-8D

Hình 2. Nang vùng ngoại vi. Nang loại này ít gặp nhưng có xu hướng giả nhân ung thư cứng khi thăm tuyến tiền liệt qua trực tràng. Nang giả “nhân cứng” này đã được yêu cầu sinh thiết để chứng minh không phải ung thư. Nang biến mất (rút hoàn toàn) sau sinh thiết.

 

Các nang bẩm sinh của tuyến tiền liệt thường nằm ở đường giữa hoặc gần đường giữa, liên quan đến các ống Wolff (ống tiền thận hoặc trung thận) hoặc các ống Muller (cận trung thận) [2]. Phần lớn những người có cấu trúc dạng nang ở tuyến tiền liệt sẽ không có triệu chứng. Đôi khi những nang này to hoặc nhiễm khuẩn sẽ gây triệu chứng (Hình 3 và 4). Củ ống Muler (mullerian tubercle) phát triển tới túi bầu dục tuyến tiền liệt dưới dạng một túi nhỏ tịt đầu (không thông) nằm sát đỉnh ụ núi. Các nang túi bầu dục (utricle cyst) tuyến tiền liệt do các túi bầu dục bị giãn (xem Hình 5). Các nang túi bầu dục có thể liên quan tới bất sản thận một bên và đôi khi chứa tinh dịch. Các nang túi bầu dục luôn nằm ở đường giữa và thường nhỏ nằm trọn trong tuyến tiền liệt, nhưng đôi khi nang có thể khá to, đường kính đến vài xăng ti mét – cm (xem Hình 3 và 4). Các nang ống Muller mọc từ di tích của ống cận trung thận. Các nang ống Muller chủ yếu nằm ở đường giữa nhưng có thể kéo dài ra bên ngoài đường giữa, khi to có thể kéo dài lên phía trên tuyến tiền liệt. Chúng không có liên quan với các tật bệnh khác và không bao giờ chứa tinh dịch. Giống với nang bầu dục, nang ống Muller có hình giọt nước hướng đến ụ núi, thành dày có thể nhìn thấy rõ, đôi khi nang có nốt vôi hóa ở thành hoặc nang chứa vôi. Trong thực hành, các nang Muller và nang bầu dục có hình ảnh tương tự nhau, việc phân biệt chúng có thể không quan trọng. Khi to, cả hai loại nang này có thể gây tắc ống phóng tinh hoặc phát triển vôi hóa và tạo ra các triệu chứng, đau, bị nhiễm khuẩn và trong nhưng trường hợp hiếm có thể phát triển u.

 H10-8B

Hình 3. Nang túi bầu dục trên mặt phẳng cắt ngang qua đáy tuyến tiền liệt (nang tròn trống âm, viền bao quanh tăng âm). Nang loại này điển hình nằm ở đường giữa và có thành rõ rệt.

 H10-8C

Hình 4. Mặt phẳng đứng dọc giữa cho thấy nang túi bầu dục với hình dạng giọt nước (trống âm) điển hình có điểm nhọn hướng về ụ núi. Nang loại này có thể gây tắc ống phóng tinh, ứ trệ tinh dịch và giãn các túi tinh (nằm sau nang túi bầu dục-hình giọt nước) như ở bệnh nhân này.

 H10-8E

Hình 5. Nang túi bầu dục có vôi hóa quanh thành (đường viền tăng âm). Nang vôi hóa kiểu này có thể liên quan đến xuất tinh lẫn máu.

 

Nang ống phóng tinh thường nhỏ và biểu hiện giãn dạng nang của ống phóng tinh, nguyên nhân có thể là do tắc ống phóng tinh (Hình 6). Ngoài ra, chúng có thể là túi thừa của ống phóng tinh. Các nang ống phóng tinh có xu hướng hình thoi và nhọn ở cả hai đầu. Các nang ống phóng tinh chứa tinh dịch khi hút đi xét nghiệm. Chúng có thể liên quan đến vô sinh và có thể gặp ở những bệnh nhân có lượng tinh trùng thấp. Trong một số trường hợp nang có thể gây đau quanh hậu môn [2, 4, 5].

Hình

Hình 6. Siêu âm qua trực tràng mặt cắt đứng dọc tuyến tiền liệt bệnh nhân 30 tuổi bị tắc ống phóng tinh do viêm cho thấy nang chứa đầy dịch có vẩn tăng âm (các mũi tên); tăng âm ở thành gợi ý vôi hóa và đầu nhọn chỉ về ụ núi (Radiology. 2010;256 (2): 493-503).

 

Áp xe tuyến tiền liệt tạo thành các “nang” giống như các ổ áp xe ở các nơi khác trong cơ thể, thành chúng không đều, dày và chứa dịch lẫn các mảnh lắng (Hình 7). Các vi sinh vật dạng coli như E. coli là nguyên nhân phổ biến nhất. Các điều kiện thuận lợi bao gồm tiểu đường, đặt dụng cụ (thông tiểu) và suy giảm miễm dịch. Hút xuyên trực tràng hoặc dẫn lưu TURP (cắt tuyến tiền liệt qua niệu đạo) có thể là những phương pháp điều trị hiệu quả thêm vào với liệu pháp kháng sinh [2-4]. Các nang do ký sinh trùng rất hiếm thấy ở các ngước phương Tây, chúng có thể do sán máng hoặc hydratid [3, 4].

Các khối u dạng nang ở tuyến tiền liệt là hiếm, nhưng u tuyến nang hoặc ung thư biểu mô tuyến dạng nang cũng đã được báo cáo trong y văn [3, 4].

H10-9E

Hình 7. Áp xe lớn ở một bệnh nhân AIDS. Hầu như toàn bộ tuyến tiền liệt bị dịch thay thế (*).N, hạch. Bệnh nhân này đáp ứng nhanh với điều trị kháng sinh chọc hút áp xe một đến hai lần qua đường trực tràng.

 

Chẩn đoán phân biệt các nang tuyến tiền liệt trước hết dựa vào vị trí ở đường giữa hoặc bên ngoài. Các tổn thương thuộc đường giữa hoặc cạnh đường giữa gồm có nang bầu dục tuyến tiền liệt, nang ống Muller (xem Bảng và Hình vẽ) , nang ống phóng tinh và nang dống dẫn tinh [4, 6]. Các nang không thuộc đường giữa gồm nang túi tinh, nang ứ đọng, nang nhu mô thoái hóa, áp xe [4, 6].

Bảng phân biệt nang ống Muller và nang bầu dục [6].

 

Các nang ống Muller

Các nang bầu dục

Kích thước

To

< 10 mm

Vị trí

 

Kéo lên phía trên của TTL. Thường nằm ở đường giữa, có thể hơi lệch ra ngoài

Không kéo lên phía trên TTL

Luôn ở đường giữa

Tuổi

Thập niên thứ 3, thứ 4

Thập niên thứ 1, thứ 2

Kết hợp

Bất sản thận (hiếm)

Lỗ đái thấp, tinh hoàn ẩn, bất sản thận.

Thông với niệu đạo

Không

Vôi hóa

Có thể có

Không

 

 Hình vẽ

Hình vẽ các nang tuyến tiền liệt [4]. (Nang túi tinh: cyst of Seminal Vesicle. Nang ống dẫn tinh: cyst of Vas Deferens. Nang ống Muller: Mullerian Duct Cyst. Nang túi bầu dục: Utricle cyst. Nang ống phóng tinh: Ejeculatory Duct cyst).

 

Tham khảo và soạn dịch từ

1. Masahito Ishikawa, Hiroshi Okabe, Takaki Oya, Mari Hirano, Masanori Tanaka, Machiko Ono, Kenichi Kawamura, Nozomu Fujimoto and Keisuke Sakurada. Midline Prostatic Cysts in Healthy Men: Incidence and Transabdominal Sonographic Findings. American Journal of Roentgenology. 2003;181: 1669-1672.

2. Curran S, Akin O, Agildere AM, et al. Endorectal MRI of prostatic and periprostatic cystic lesions and their mimics. AJR Am J Roentgenol 2007;188:1373-1379.

3. Galosi AB, Montironi R, Fabiani A, et al. Cystic lesions of the prostate gland: an ultrasound classification with pathological correlation. J Urol 2009;181:647-657.

4. Nghiem HT, Kellman GM, Sandberg SA, Craig BM. Cystic lesions of the prostate. Radiographics 1990;10:635-650.

5. Parsons RB, Fisher AM, Bar-Chama N, Mitty HA. MR imaging in male infertility. Radiographics 1997;17:627-637.

6. Eugene Lin, Edward Escott, Kavita Garg. Prostatic cysts. Practical Differential Diagnosis in CT and MRI. Thieme, 2008. 259-260

7. Ants Toi. The prostate. DIAGNOSTIC ULTRASOUND, FOURTH EDITION. Carol M. Rumack

Để lại bình luận

1 Phản hồi

  1. chào bác sĩ, em có liên quan về bệnh Muller, em có thể đến gặp bác sĩ để trình bày về bệnh cũng như các kết quả xét nghiệm được ko ạ?

    Trả lời

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: