Diễn giải X quang vú (phần 2): Vôi hóa

Bài X quang vú có các từ vựng miêu tả (tạm dịch, tô màu xanh) dựa theo định nghĩa BIRADS hiện hành, gồm những phần sau:

– Khối

– Vôi hóa

– Biến dạng cấu trúc

– Những trường hợp đặc biệt

– Những dấu hiệu kết hợp

2. VÔI HÓA

(Phân loại và Phân bố của Vôi hóa)

Vôi hóa được nhận định lành tính trên phim x quang điển hình là tròn, to và thô với bờ nhẵn và dễ nhận ra hơn vôi hóa ác tính. Vôi hóa liên quan đến u ác tính (cũng như nhiều loại vôi hóa lành tính) thường rất nhỏ và cần sử dụng kính phóng đại để nhìn thấy rõ hơn.

Khi không thể đưa ra bệnh căn cụ thể thì mô tả vôi hóa nên có cả hình thái và phân bố của chúng. Không nhất thiết phải luôn báo cáo vôi hóa lành tính hiển nhiên. Tuy nhiên, nên báo cáo chúng nếu bác sỹ đọc phim lo ngại các người đọc phim khác có thể diễn giải sai. Vôi hóa mạch máu được ghi chú trong báo cáo kết quả, đặc biệt ở phụ nữ dưới 50 tuổi có dữ liệu gợi ý nguy cơ tiềm tàng của bệnh động mạch vành.

1

Sơ đồ này thể hiện nhiều loại vôi hóa có thể nhìn thấy trên phim x quang vú: (1) các vụn vôi hóa trong ống dẫn; (2) các vòng vôi hóa đậm, trung tâm sáng trong hoại tử mỡ; (3) vôi hóa lắng đọng trong các nang nhỏ (cặn vôi); (4) các thể kết ở trong các tiểu thùy giãn dạng nang nhỏ; (5) viền vôi hóa ở thành nang dịch: (6) lắng đọng ban đầu trong khối u xơ-tuyến thoái triển; (7) lắng đọng nhiều trong khối u xơ-tuyến thoái triển; (8) vôi hóa mạch máu; (9) vôi hóa da; (10) vôi hóa hình que trong bệnh chế tiết; (11) lắng đọng đa hình thái ở ung thư nội ống tuyến; (12) vôi hóa hình đường mảnh ở comedocarcinoma.

2.1. LÀNH TÍNH ĐIỂN HÌNH

a. Vôi hóa của da.

            Những nốt vôi tròn hoặc đa giác ở da thường có trung tâm sáng và hình thái của chúng đặc trưng bệnh. Vôi hóa da đa phần nhìn thấy dọc nếp dưới vú cạnh xương ức, nách và quầng vú. Các nếp bất thường có thể được xác định là lắng đọng ở da bằng cách chụp vú theo hướng tiếp tuyến với da phủ trên.

2

Vôi hóa tròn, trung tâm sáng ở da.

3

Những nốt vôi có trung tâm sáng và hình đa giác thì hầu như luôn là vôi hóa lành tính của da, như thấy trong hình A đã được phóng đại nhiều lần. Vôi hóa của da thường thấy dọc bờ xương ức của vú, như nhìn thấy ở hướng chếch trong – ngoài (hình B) và đầu – chân (hinh C) ở bệnh nhân thứ hai này. Các nốt vôi có trung tâm sáng tập trung với mật độ cao ở đây do vùng này có nhiều nang lông.

4

Có các vôi hóa to, lành tính với trung tâm sáng (mũi tên ngắn)  trong hình A, nhưng cũng có những vi vôi hóa đa hình (mũi tên dài) do ung thư biểu mô nội ống. Hình B phóng đại.

b. Vôi hóa mạch máu

            Những đường vôi hóa song song, hoặc những đoạn thẳng vôi hóa liên quan rõ ràng với các cấu trúc ống.

5

c. Vôi hóa hình bỏng ngô (popcorn-like) hay thô đại

            Những vôi hóa này to (đường kính >2-3mm) kinh điển do u xơ-tuyến thoái triển tạo ra.

6

Các phim x quang vú trình bày u xơ tuyến thoái hóa có vôi hóa thô đại (A) và hình bỏng ngô (B)( Indian J Radiol Imaging. 2009 November; 19(4): 282–286.)

7

Vôi hóa giống hình bỏng ngô điển hình của u xơ tuyến thoái triển, như trong hình chụp hướng chếch trong ngoài A (hình B phóng đại) và hướng đầu-chân C (hình D phóng đại) ở bệnh nhân nữ 43 tuổi này.

d. Vôi hóa hình que lớn

            Những vôi hóa lành tính này liên quan tới giãn ống dẫn và có thể tạo thành các hình que đặc, thẳng, nhẵn, hoặc đứt đoạn, đường kính thường ≥ 1mm. Chúng có trung tâm sáng nếu vôi đọng ở thành ống, và sẽ thường đặc ở các ống bị giãn. Chúng phân bố theo các ống, tỏa tia hướng tới núm vú, đôi khi phân nhánh và thường ở hai bên vú. Vôi hóa bài tiết thường gặp ở phụ nữ trên 60 tuổi.

8

Vôi hóa hình que đặc là điển hình của vôi hóa lành tính do các chất tế bào nội ống trong bệnh bài tiết, đây là phim hướng nghiêng A và đầu-chân của một bệnh nhân nữ 83 tuổi.

9

Vôi hóa tiết có thể hình ống với trung tâm sáng, giống như một số vối hóa trong phim hướng đầu-chân này. Có giả thuyết bệnh là do viêm quanh ống dẫn. (Indian J Radiol Imaging. 2009 November; 19(4): 282–286.)

e. Vôi hóa hình tròn

            Khi nhiều, vôi hóa loại này có thể có kích thước khác nhau. Chúng có thể được coi là lành tính khi phân tán. Khi nhỏ (≤ 1mm), chúng thường được hình thành trong các phế nang của tiểu thùy. Nếu kích thước nhỏ hơn 0,5mm có thể gọi là “chấm”. Một chùm riêng biệt các chấm vôi hóa có thể cho phép theo dõi sát hoặc thậm chí sinh thiết nếu mới xuất hiện hoặc cùng bên với một ung thư (đã biết) cho dù cần phải có nghiên cứu thêm để chứng thực.

10

Vôi hóa lành tính điển hình. Vôi hóa dạng chấm lan tỏa. Những chấm vôi này xuất hiện ở khắp hai vú.(V.P. Jackson / Radiol Clin N Am 42 (2004) 853– 870).

11

Vôi hóa [hình] chùm nang. Hình A cho thấy một nhóm các vôi hóa tròn, nhỏ đứng sát nhau nhiều khả năng là tiểu thùy vị giãn kiểu vi nang. Sơ đồ B gợi ý sự phát triển của vôi hóa dạng nang.

f. Vôi hóa trung tâm sáng

            Đó là những vôi hóa lành tính có kích thước từ dưới 1mm đến 1cm hoặc lớn hơn. Những chất lắng đọng đó hình tròn hoặc bầu dục, có bề mặt nhẵn và trung tâm sáng. “Thành” dày hơn vôi hóa kiểu “vỏ trứng” hoặc “đường viền”. Vôi hóa loại này gồm có các vùng hoại tử mỡ và mảnh lắng vôi hóa trong các ống tuyến.

12

Vôi hóa trung tâm sáng do tiến triển lành tính trong ảnh A. Trong trường hợp thứ hai,  vôi hóa trên ảnh phóng đại chếch trong – ngoài B và đầu – chân C tập trung thành đám hình cầu. Chúng đã được theo dõi và cuối cùng tạo thành lắng cặn hình cầu (D, E) nhiều khả năng do hoại tử mỡ (Lưu ý cũng có các chấm vôi hóa khác được hình thành trong thời kỳ chuyển tiếp).

g. Vôi hóa kiểu “vỏ trứng” hoặc “đường viền”

            Những vôi hóa lành tính này rất mỏng xuất hiện dưới dạng lắng đọng vôi trên bề mặt của một khối cầu. Những lắng đọng đó có chiều dày thành mỏng dưới 1mm. Hoại tử mỡ và vôi hóa thành nang là nguyên nhân phổ biến nhất của vôi hóa đường viền.

13

Nang dầu. Khối chứa mỡ, bờ rõ này (mũi tên) là kết quả của phẫu thuật thu nhỏ tạo hình vú. Một dải xơ (đầu mũi tên) ở bên dưới nang dầu. Tiến triển này biểu hiện lành tính trên x quang. Không cần đánh giá thêm hoặc can thiệp.(V.P. Jackson / Radiol Clin N Am 42 (2004) 853– 870)

 14

Vôi hóa đường viền mỏng thường vạch ra thành nang. Trong trường hợp này đường nét của nang 1cm có thể nhìn thấy rõ trong mô dày đặc bởi vì viền vôi ở thành.

 

h. Vôi hóa dạng “sữa canxi”

            Đây là biểu hiện của vôi hóa lắng đọng trong các nang lớn và nhỏ. Trên ảnh hướng đầu-chân chúng thường kém rõ và các lắng đọng vô định hình, tròn, mờ nhạt, trong khi trên phim nghiêng 900 chúng thường hình lưỡi liềm, hình bán nguyệt, bờ rõ hình đoạn thẳng hoặc đường cong lắng đọng ở phần thấp của các nang. Một đặc điểm quan trọng nhất của vôi hóa loại này là sự thay đổi hình dạng của chúng theo các hướng chụp x quang vú khác nhau (hướng đầu chân so với chếch hoặc nghiêng bên 900).

 15

Các lớp sữa canxi trong các nang. Ở cá nhân này (hình A) chỉ vừa đủ nhìn thấy nang (mũi tên) trên phim hướng đầu-chân bởi vì chùm tia đi qua một lớp canxi rất mỏng. Trên phim B chụp nghiêng phóng đại, lớp canxi vẽ ra đáy cong lồi của nang. Hiện tượng này được mô tả bằng sơ đồ trong ảnh C, theo đó sữa canxi tạo thành “vũng” canxi ở phần thấp của nang. Khi nhìn từ trên xuống theo phim chụp đầu-chân, mật độ canxi giảm từ trung tâm ra ngoại vi, tạo thành hình thái vô định hình. Trong phim chụp hướng nghiêng, vôi tạo thành một bóng hình lưỡi liềm lõm xuống.

 16

Hiện tượng được lấy thí dụ như các bông tuyết lắng đọng trong quả cầu thủy tinh chặn giấy (trên cùng)  sau khi lắc, chúng ta chụp ở hướng nghiêng và từ trên xuống.

 17

Phim chụp nghiêng cho thấy lớp sữa canxi trong nang (mũi tên). (Indian J Radiol Imaging. 2009 November; 19(4): 282–286.)

 18

Phim bên trái hướng đầu chân phóng đại, sữa canxi xuất hiện lờ mờ, bờ kém rõ. Phim bên phải hướng chếch trong ngoài phóng đại, sữa canxi hình đoạn thẳng, bờ rõ.

 

i. Vôi hóa đường chỉ khâu

            Vôi hóa này lắng đọng ở tổ chức nền trong ruột đường khâu. Điển hình chúng hình vòng hoặc đường thẳng, thường nhìn thấy nút thắt (hình thòng lọng).

19

j. Vôi hóa loạn dưỡng

            Những vôi hóa này thường được tạo ra trong vú xạ trị hoặc sau chấn thương. Mặc dù hình dạng không đều, chúng thường thô đại và kích thước lớn hơn 0,5mm. Chúng thường có trung tâm sáng.

20

Bệnh nhân đã phẫu thuật bảo tồn vú. Vôi hóa trung tâm sáng này là điển hình của hoại tử mỡ.

21

Phim A chếch trong ngoài và phóng to trong phim B chếch trong ngoài, phim hướng đầu chân C thấy vôi hóa phát triển ở một phụ nữ 57 tuổi 5 năm sau cắt và xạ trị ung thư vú xâm lấn. Bởi vì một vài vôi hóa có kích thước nhỏ, chúng đã được cắt bỏ, bộc lộ xơ hóa, thay đổi do xạ trị, và vôi hóa loạn dưỡng lành tính. Các vôi hóa loạn dưỡng lành tính thường có hình ảnh giống mảnh dung nham vỡ. Ảnh D là một mảnh dung nham thực sự. Lưu ý rằng bệnh nhân này trước đây đã xạ trị ung thư vú, các vôi hóa loạn dưỡng nhìn thấy ở phim  chếch trong ngoài E và phóng to F rất giống dung nham. Phim G là phim phóng to vôi hóa lành tính giống dung nham ở một bệnh nhân khác.

22

2.2. VÔI HÓA NGHI NGỜ, LO NGẠI VỪA PHẢI

a. Vôi hóa Vô định hình hoặc Không rõ (Amorphous or Indistinct Calcifications)

            Những vôi hóa này lờ mờ hoặc nhỏ đến mức mà việc phân loại hình thái cụ thể hơn không thể xác định được. Những vôi hóa vô định hình phân tán lan tỏa thường được cho là lành tính mặc dù các phim phóng đại có thể hữu ích. Những vôi hóa vô định hình phân bố thành chùm, vùng, đoạn hoặc đường thẳng có thể cho phép sinh thiết.

23

Vôi hóa vô định hình về cơ bản là tròn, nhưng bờ mờ. Trong ảnh là vôi trong các nang.

24

Vôi hóa vô định hình là loại khó nhận ra nhất. Chúng có kích thước nhỏ (< 0,5mm), không đều đặn, nhưng khác vôi hóa đa hình về sự dễ thấy hay mật độ của chúng. Bờ của chúng không rõ nét như bờ của vôi hóa đa hình. Mật độ của chúng chỉ cao hơn mật độ mô tuyến xung quanh một ít. (Carl J. D’Orsi. Radiol Clin N Am 45 (2007) 751–763).

25

Vôi hóa rất nhỏ, lờ mờ và thường khó thấy trên các máy CR (CR system). Phim x quang cho thấy nhiều vôi hóa vô định hình (mũi tên). Tiến hành định vị dây móc; báo cáo mô bệnh học không thấy ác tính. (Indian J Radiol Imaging. 2009 November; 19(4): 282–286.)

26

Hầu hết các bác sỹ điện quang gặp vấn đề với loại vôi hóa gây lo lắng vừa phải này. Chúng được mô tả trong BIRADS là lờ mờ hoặc vô định hình khi các hạt quá nhỏ hay lờ mờ. Giá trị dự báo dương tính khá thấp (dưới 10%). Ảnh cho thấy một chùm vôi hóa 1cm chứa một hạt lớn và rất nhiều hạt nhỏ lờ mờ (mũi tên) đến mức khó mô tả đặc điểm ngay cả khi phóng đại. Sinh thiết là ung thư biểu mô ống bậc thấp tại chỗ, nhưng các dấu hiệu x quang vú không thể phân biệt với các tiến triển lành tính. (V.P. Jackson / Radiol Clin N Am 42 (2004) 853–870).

27

Vú trái của một phụ nữ 44 tuổi. Phim x quang vú hướng đầu – chân phóng đại cho thấy một chùm vôi hóa vô định hình. Chẩn đoán mô học bằng sinh thiết kim lớn định vị ba chiều bộc lộ các thay đổi tế bào hình trụ và tăng sản tế bào hình trụ mà không điển hình (atypia). (Chris K. Bent. AJR:194, May 2010)

b. Vôi hóa Không đồng nhất, Thô đại (Coarse Heterogenous Calcifications)

            Vôi hóa loại này không đồng đều, dễ thấy, thường lớn hơn 0,5mm và có xu hướng hợp nhất lại nhưng không đạt tới kích thước của vôi hóa loạn dưỡng có hình dạng méo mó. Chúng có thể liên quan với bệnh ác tính nhưng cũng có thể xuất hiện ở các vùng xơ hóa, u xơ – tuyến hoặc chấn thương  thể hiện các vôi hóa loạn dưỡng tiến triển.

28

Trong các loại vôi hóa nghi ngờ, vôi hóa đa hình nhỏ có mức độ nghi ngờ ác tính cao nhất, vôi hóa không đồng nhất thô đại ít nghi ngờ nhất, và vôi hóa vô định hình có mức độ ở giữa hai loại trên. Berg và đồng sự (Radiology, 2001, 221) nghiên cứu 150 tổn thương vôi hóa vô định hình: 20% ác tính, trong đó 90% là DCIS. Ảnh x quang vú cho thấy một chùm vôi hóa, hình dạng không đồng đều và lớn hơn 0,5mm nhưng không lớn bằng vôi hóa loạn dưỡng. (Carl J. D’Orsi. Radiol Clin N Am 45 (2007) 751–763).

29

Chụp xquang vú phải một phụ nữ 59 tuổi, hướng đầu – chân, phóng đại cho thấy một chùm vôi hóa thô đại không đồng nhất. Kết quả bệnh học sinh thiết kim lớn định vị ba chiều và sinh thiết mở cho thấy ung thư biểu mô tại chỗ loại trung gian có hoại tử trung tâm và các đặc điểm hóa mô phù hợp với ung thư biểu mô tại chỗ. Tổn thương đã được đánh giá là lành tính khi phân tích thống kê.(Chris K. Bent. AJR:194, May 2010).

2.3  KHẢ NĂNG ÁC TÍNH CAO HƠN

a. Vôi hóa Đa hình, Nhỏ (Fine Pleomorphic Calcifications)

            Vôi hóa loại này thường dễ thấy hơn vôi hóa vô định hình và là vôi hóa không lành tính điển hình cũng không ác tính điển hình. Chúng biến thiên về hình dạng và kích thước, đường kính thường nhỏ hơn 0,5mm.

30

Chụp x quang vú phải của một phụ nữ 67 tuổi. Phim hướng đầu – chân phóng đại cho thấy một chùm vôi hóa đa hình nhỏ (bờ rõ hơn vôi hóa vô định hình). Chẩn đoán bệnh học bằng sinh thiết kim lớn định vị ba chiều và sau đó cắt khối là tăng sản ống tuyến không điển hình và tăng sản tế bào trụ. (Chris K. Bent. AJR:194, May 2010).

31

Vôi hóa đa hình phân bố theo đoạn. Kết quả sinh thiết là ung thư biểu mô ống tuyến thâm nhiễm và vôi hóa trong DCIS (ung thư biêu mô ống tại chỗ).(L. Liberman, J.H. Menell / Radiol Clin N Am 40 (2002) 409–430).

b. Vôi hóa hình Đường Thẳng Nhỏ hoặc Đường thẳng – Nhỏ Phân nhánh (Fine Linear or Fine-Linear Branching Calcifications)

            Vôi hóa loại này không đều, xếp thành đường thẳng hoặc đường cong mảnh, các hạt vôi hóa có thể không liên tục và chiều ngang nhỏ hơn 0,5mm. Hình thái của chúng gợi ý sự lấp đầy lòng ống không đều đặn do ung thư vú.

32

Phân bố từng đoạn. Chụp x quang ống tuyến cho thấy sự phân nhánh hình cành cây của hệ thống ống tuyến. Hình thái phân nhánh này được các hạt vôi hóa nhỏ đúc khuân gợi lại các đường thẳng nhỏ phân nhánh. Giải phẫu bệnh: DCIS. (Carl J. D’Orsi. Radiol Clin N Am 45 (2007) 751–763).

33

Chụp x quang vú phải bệnh nữ 50 tuổi, hướng trong ngoài, phóng đại cho thấy vôi hóa phân nhánh/đường thẳng nhỏ theo phân bố các ống tuyến thẳng. Chẩn đoán bệnh học bằng sinh thiết kim lớn định vị ba chiều và cắt khối là K biểu mô ống tuyến xâm lấn có bậc hạt nhân trung gian, và K biểu mô ống loại comedo bậc cao tại chỗ có hoại tử trung tâm. (Chris K. Bent. AJR:194, May 2010).

34

Vôi hóa ở hình A là kiểu đường thẳng, nhỏ phân nhánh điển hình của comedocarcinoma. Sơ đồ B cho thấy cách thức các tế bào ung thư lấp đầy ống và có thể hoại tử, vôi hóa.

35

Vôi hóa nhỏ, xếp thẳng hàng, phân nhánh là điển hình của u ác tính (Indian J Radiol Imaging. 2009 November; 19(4): 282–286.)

2.4. ĐIỀU CHỈNH PHÂN BỐ

            Đây là những từ mô tả sự sắp xếp của vôi hóa trong vú. Nhiều nhóm vôi hóa giống nhau về hình thái và phân bố cần được chỉ rõ ra trong báo cáo.

a. Rải rác (Diffuse/Scattered)

            Vôi hóa loại này phân tán rải rác một cách tự nhiên khắp vú. Vôi hóa chấm và vô định hình trong loại phân bố này thường lành tính và ở hai bên vú.

36

Phim x quang hướng đầu – chân hai vú cho thấy vi vôi hóa rải rác lan tỏa, lành tính. (Indian J Radiol Imaging. 2009 November; 19(4): 282–286.).

37

Vôi hóa vô định hình, phát tán lan tỏa do tiến triển bệnh lành tính. Càng nhìn kỹ càng thấy vôi hóa trở nên rõ hơn khắp vú chụp tư thế chếch trong ngoài A và đầu chân B. Ở người phụ nữ 50 tuổi này các chấm vôi hóa đó đã ổn định 4 năm.

b. Vùng (Regional)

            Vôi hóa loại này phát tán trong một thể tích lớn (> 2cc) mô vú không tương ứng với phân bố ống tuyến. Bởi vì phân bố loại này có thể liên quan đến gần một góc phần tư hoặc hơn góc một phần tư nên u ác tính rất ít khả năng xảy ra. Tuy nhiên việc đánh giá phải bao gồm yếu tố hình dạng cũng như phân bố.

c. Nhóm hoặc chùm (Grouped or Clustered)

            Nên dùng thuật ngữ này khi có ít nhất 5 vôi hóa trong một thể tích nhỏ (< 1cc) mô vú.

38

Phim chụp xq vú cho thấy nhiều hơn 5 nốt vôi trong 1cm2 ở một phụ nữ 51 tuổi được sàng lọc vú thường qui. Những nốt vôi đó nhỏ và đa hình thái và đã được xác minh là DCIS.

39

Trong hình phóng đại này có một chùm 5 chấm vôi hóa trong 1cm3. Nó được chẩn đoán DCIS ở bệnh nhân nữ 55 tuổi này.

40

Phim x quang vú cho thấy một chùm các chấm vôi hóa. (Indian J Radiol Imaging. 2009 November; 19(4): 282–286).

Một chùm có 5 hoặc nhiều hơn 5 chấm vôi trong một vùng nhỏ 1cm2, thấy ở cả bệnh lành tính và ác tính. Nếu chùm thưa (<10/cm2) thì khả năng ác tính lớn hơn. (Park JM, Choi HK, Bae SJ, Lee MS, Ahn SH, Gong G. Clustering of breast microcalcifications: revisited. Clin Radiol. 2000;55:114–8).

d. Đường thẳng (Linear)

            Vôi hóa xếp thành đường thẳng. Kiểu phân bố này có thể làm tăng nghi ngờ về tổn thương ác tính bởi vì nó gợi ý lắng đọng trong ống tuyến.

41

Các vôi hóa có hình thái và phân bố theo đường thẳng (mũi tên). Kết quả sinh thiết là ung thư biểu mô ống tại chỗ có vôi hóa.

42

Người phụ nữ 56 tuổi này có tiền sử ung thư vú trái, chụp sàng lọc kiểm tra vú phải. Phim x quang vú phải hướng chếch trong ngoài (A) cho thấy một chùm vi vôi hóa ở trung tâm (mũi tên). Phóng đại (C) cho thấy các vi vôi hóa phân bố theo đường thẳng. Ấn tượng: vôi hóa rất nghi gờ ác tính. Mô bệnh học tổn thương: DCIS, loại comedo.

e. Thùy (Segmental)

            Vôi hóa phân bố theo thùy gây lo lắng vì chúng gợi ý đọng vôi trong một ống tuyến hoặc nhiều ống tuyến và các nhánh của chúng làm tăng khả năng của ung thư vú lan rộng hoặc nhiều ổ (multifocal) ở một thùy (lobe or segment) của vú. Mặc dù tồn tại các nguyên nhân của vôi hóa (thí dụ, các vôi hóa chế tiết), hình thái nhẵn, giống hình que và kích thước của mỗi vôi hóa thì lớn có thể giúp phân biệt vôi hóa lành tính với vôi hóa ác tính, nhỏ hơn, không đều đặn. Phân bố theo thùy có thể làm tăng nghi ngờ đối với các vôi hóa hình tròn (chấm) hoặc vô định hình.

43

Phim x quang vú chếch trong – ngoài (A) và phóng đại (B) cho thấy vôi hóa phân bố theo thùy. (Indian J Radiol Imaging. 2009 November; 19(4): 282–286.)

44

Tiền sử: Bệnh nhân nữ 55 tuổi xquang vú sàng lọc

Phim x quang: hướng chếch trong ngoài (A) và phóng đại hướng trong ngoài (B) cho thấy các vi vôi hóa phân bố theo thùy, hình đường thẳng  ở mặt trên của vú. Hình thái này rất gợi ý ác tính. Sinh thiết kim lớn và chụp x quang mảnh bệnh phẩm (C) để chứng minh rất nhiều vi vôi hóa ở trong các lõi sinh thiết. Bệnh học của các lõi cho thấy tăng sản ống không điển hình (ADH) Bởi vì sự hiện diện của dạng không điển hình nên tiến hành cắt bằng phẫu thuật đã được khuyến cáo và thực hiện.

Ấn tượng: Vi vôi hóa, rất gợi ý ác tính, BI-RADS 5.

Mô bệnh học: tăng sản ống không điển hình với các lõi. Ung thư biểu mô ống tại chỗ với mảnh cắt.

45

Vôi hóa được phân bố theo thùy là những vôi được tạo trong một hệ thống ống đơn. Khi chúng không đồng nhất và không đều đặn, chúng thường do ung thư biểu mô ống tại chỗ, như nhìn thấy ở các phim hướng chếch trong ngoài A và đầu chân B của bệnh nhân có comedocarcinoma này. Vôi hóa phân bố theo thùy có thể do quá trình bệnh lý lành tính.

Đôi khi các vôi hóa tròn, đều, phân bố theo thùy có thể gặp trong xơ hóa mô đệm lành tính, như trong phim chếch trong ngoài C và đầu chân D và phim x quang mảnh E này.

Để lại bình luận

2 phản hồi

  1. bui huy

     /  04.05.2015

    Cảm ơn những bài học của a. Thực sụ là rất bổ ích.

    Trả lời

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: