Siêu âm buồng trứng và phần phụ :(phần 2) các tổn thương trung gian, hướng dẫn báo cáo

———————————————

US of the Ovary and Adnexa: To Worry or Not to Worry?

Faye C. Laing, MD • Sandra J. Allison, MD

RadioGraphics 2012 (October Special Issue 2012)

—————————————————————

Siêu âm buồng trứng và phần phụ: giải toả hay chất thêm lo lắng

(tiếp theo và hết)

4. Báo cáo và Quản lý các tổn thương Buồng trứng và Ngoài buồng trứng theo Hình thái

Siêu âm có vai trò quan trọng trong đánh giá các khối của khung chậu. Các bác sỹ siêu âm mô tả ngắn gọn và chính xác các phát hiện có liên quan trong phần chính của báo cáo, rồi đưa ra chẩn đoán định hướng cho phép bác sỹ lâm sàng quản lý bệnh nhân một cách hợp lý. Đối với các tổn thương của buồng trứng và ngoài buồng trứng có thể nhận biết dễ dàng như đã mô tả ở phần trên, một vài nhóm tác giả đã công bố các tiêu chuẩn hướng dẫn quản lý chúng.

Hội X quang Mỹ (ACR) đã đưa ra Tiêu chuẩn phù hợp (Appropriateness Criteria) để hướng dẫn quản lý các tổn thương của buồng trứng và phần phụ. Trong báo cáo cập nhật 2009 có tiêu đề “Lâm sàng nghi ngờ Khối phần phụ” đã kết luận rằng các nang sinh lý không có triệu chứng ở phụ nữ tuổi sinh đẻ sẽ tiêu đi tự phát. Cũng tương tự như vậy, do các nang đơn thuần có hình thái lành tính, u nội mạc tử cung, u nang bì, ứ dịch vòi trứng (đường kính của mỗi tổn thương < 6 cm) không thay đổi sau một thời gian theo dõi dài thì nên quản lý chúng bằng theo dõi siêu âm định kỳ hơn là can thiệp phẫu thuật [34].

Năm tiếp theo (2010), Chi hội các nhà X quang chuyên về Siêu âm Mỹ (Society of Radiologists in Ultrasound, SRU) đã họp công bố một bản tuyên bố đồng thuận chi tiết đề ra các hướng dẫn quản lý các khối không triệu chứng của buồng trứng và ngoài buồng trứng được chẩn đoán bằng siêu âm [12]. Một mối quan tâm chính là quản lý các nang có hình thái đơn giản không phải là nang chức năng hoặc sinh lý. Các thành viên đã nhất trí công bố các nang phần phụ (đường kính lớn nhất tới 10 cm) có nhiều khả năng lành tính [35-37], trong đó có đến 84% những tổn thương là u tuyến nang thanh dịch (serous cystadenoma) lành tính về mặt mô học [38]. Phân tích di truyền các khối tân tạo lành tính này cho thấy rằng chúng không chứa các mã di truyền gặp trong các khối ác tính. Do đó, Chi hội Siêu âm Mỹ (SRU) nhấn mạnh tới các tiếp cận ít xâm lấn đối với loại tổn thương này ở cả phụ nữ mãn kinh và trước mãn kinh.

Bốn phần tiếp theo sẽ tóm tắt các kết luận của các nhóm chuyên gia siêu âm Mỹ.

Hướng dẫn đối với phụ nữ trước mãn kinh

  1. Các nang đơn thuần hoặc xuất huyết kích thước 3 cm hoặc nhỏ hơn không yêu cầu theo dõi, và tuỳ theo sự diễn giải bác sỹ có thể không cần viết trong báo cáo kết quả siêu âm.
  2. Các nang đơn thuần hoặc xuất huyết kích thước lớn hơn 3 cm và bằng hoặc nhỏ dưới 5 cm không yêu cầu theo dõi nhưng nên đề cập đến nó trong báo cáo kết quả siêu âm.
  3. Các nang đơn thuần hoặc xuất huyết kích thước lớn hơn 5 cm và bằng hoặc nhỏ dưới 7 cm nên theo dõi bằng siêu âm hàng năm để kiểm tra tính ổn định của tổn thương.
  4. Các nang đơn thuần lớn hơn 7 cm nên đánh giá thêm bằng các phương pháp hình ảnh khác (thí dụ, cộng hưởng từ) hoặc can thiệp phẫu thuật.
  5. Các nang xuất huyết lớn hơn 5 cm và bằng hoặc dưới 7cm nên theo dõi siêu âm 6-12 tuần để đảm bảo máu tiêu đi.

Hướng dẫn đối với phụ nữ sau mãn kinh

  1. Các u nội mạc tử cung có hình ảnh cổ điển nên theo dõi siêu âm sau 6-12 tuần để đánh giá tính ổn định. Thực hiện theo dõi bởi vì các nang xuất huyết và u nội mạc tử cung có thể có chung các đặc điểm siêu âm. Nếu một u nội mạc tử cung không phẫu thuật cắt bỏ thì nên thực hiện theo dõi siêu âm hàng năm để đảm bảo tính ổn định về kích thước và hình thái.
  2. Các u nang bì có hình thái cổ điển không yêu cầu thêm các phương pháp chẩn đoán khác để khẳng định, nhưng nên đánh giá lại chúng bằng siêu âm sau 6-12 tháng để đảm bảo tính ổn định về kích thước và hình thái. Do đó, siêu âm hàng năm được khuyến cáo.
  3. Các ứ dịch vòi trứng có hình thái cổ điển và u nang vùi phúc mạc (PIC) không yêu cầu đánh giá thêm bằng các phương pháp chẩn đoán hình ảnh khác hoặc theo dõi để khẳng định chẩn đoán. Các kiểm tra tiếp theo phụ thuộc vào tuổi của bệnh nhân và các triệu chứng lâm sàng.
  4. Các nang cạnh buồng trứng được theo dõi bằng các tiêu chí giống như đã sử dụng cho các nang buồng trứng đơn thuần trước mãn kinh.

Hướng dẫn đối với Phụ nữ mãn kinh giai đoạn sớm (1-5 năm sau Kỳ kinh Cuối)

Bởi vì rụng trứng đôi khi có thể xảy ra trong giai đoạn đầu sau mãn kinh nên các nang xuất huyết cũng có thể xảy ra. Một nang xuất huyết hình thái cổ điển nên mô tả trong báo cáo và nên thực hiện theo dõi siêu âm trong 6-12 tuần để đảm bảo máu tiêu đi.

Hướng dẫn đối với Phụ nữ mãn kinh giai đoạn sau (> 5 năm sau Kỳ kinh Cuối)

  1. Các nang đơn thuần bằng hoặc dưới 1 cm không yêu cầu theo dõi, tuỳ theo sự diễn giải bác sỹ có thể không cần viết trong báo cáo.
  2. Các nang đơn thuần lớn hơn 1 cm và bằng hoặc nhỏ hơn 7 cm nên được mô tả trong báo cáo và ghi ảnh ban đầu, siêu âm hàng năm để đám bảo tính ổn định về kích thước và hình thái. Khi nang ổn định hoặc giảm kích thước thì khoảng cách thời gian theo dõi có thể kéo dài ra. Báo cáo kết quả nên nhấn mạnh những tổn thương như thế này gần như chắc chắn là lành tính.
  3. Các nang đơn thuần lớn hơn 7 cm nên đánh giá thêm bằng các phương pháp hình ảnh khác (thí dụ cộng hưởng từ) hoặc can thiệp phẫu thuật.
  4. Một nang xuất huyết không xảy ra bởi vì bệnh nhân không còn rụng trứng. Bất cứ nang nào có hình thái giống nang xuất huyết ở giai đoạn này thì khả năng cao là tân tạo (u), và nên cân nhắc phẫu thuật.

Nếu chụp cắt lớp vi tính được thực hiện trước và các dấu hiệu là cổ điển của nang noãn, hoàng thể, hoặc u quái dạng nang trưởng thành thì không cần thực hiện siêu âm [39-42].

5. Các tổn thương khác

Phần bàn luận trên cho phép các nhà siêu âm có kinh nghiệm xác định các điểm đặc trưng của các tổn thương buồng trứng và ngoài buồng trứng lành tính và cung cấp các hướng dẫn quản lý khi bắt gặp các tổn thương đó. Đôi khi, các tổn thương lành tính có thể xuất hiện không điển hình, trong những trường hợp này nên phân loại là trung gian nhưng nhiều khả năng là lành tính. Trái lại, các tổn thương khác có thể có hình ảnh gây lo ngại (ác tính) thực sự, trong trường hợp này nên xếp loại là trung gian nhưng nhiều khả năng là ác tính.

Ngay cả với một số tổn thương điển hình thường có diện mạo cổ điển và được mô tả là một trong sáu thực thể hay gặp của buồng trứng cũng có thể có những đặc điểm không điển hình (Hình 16). Thí dụ, một nang xuất huyết có thể chứa cục máu co lại giả một nốt ở thành, hoặc các dải tơ huyết có thể bị diễn giải sai thành các vách [13]. Cả nang xuất huyết và u nội mạc tử cung có thể có thành không đều (Hình 17), chất chứa bên trong không đồng nhất gợi ý thành phần đặc, hoặc mức dịch-cặn lắng [16-18]. Ngoại lệ hiếm gặp của u nội mạc tử cung không bình thường có nốt ở thành được mạch máu nuôi dưỡng [3], còn u nội mạc và các nang xuất huyết luôn luôn vô mạch (Hình 16). Để phân biệt giữa hai thực thể này, các phụ nữ trước mãn kinh và giai đoạn đầu sau mãn kinh nên được theo dõi siêu âm trong vòng 6-12 tuần để theo dõi cục máu tiêu đi và xác định quá trình xuất huyết là nguyên nhân. Nếu tổn thương đó tồn tại hoặc bệnh nhân là phụ nữ sau mãn kinh, thì nên chụp cộng hưởng từ và tuỳ thuộc vào kết quả có thể cần thiết đánh giá bằng phẫu thuật. Đối với u nang bì, khó khăn có thể phát sinh nếu (a) dấu hiệu “đỉnh núi băng”-“tip of the iceberg” [27] bị diễn giải nhầm là ruột (Hình 10a); hoặc (b) tổn thương chủ yếu là thành phần nang khiến khó phân biệt với các khối dạng nang khác. Hình ảnh của u nang bì có thể nhầm với u nội mạc tử cung và các u dạng nang lành tính của buồng trứng [43]. Trong các trường hợp nghi ngờ, dùng cắt lớp vi tính (CT) để tìm kiếm mỡ và các nốt vôi. Chụp cộng hưởng từ cũng có thể giúp tìm mỡ trong tổn thương.

F16.medium

Hình 16. Nang xuất huyết không điển hình ở một phụ nữ 27 tuổi đến Khoa cấp cứu vì đau hố chậu phải. Ảnh siêu âm Doppler màu đường âm đạo, mặt cắt đứng ngang phần phụ phải cho thấy một cấu trúc dạng nang ở buồng trứng phải chứa các chất có vẻ đặc, nó giả các nốt ác tính ở thành (*); tuy nhiên, các nốt này không có mạch máu.

F17.medium

Hình 17. U nội mạc tử cung không điển hình ở một phụ nữ 36 tuổi biểu hiện đau bên phải hạ vị. Ảnh siêu âm đường âm đạo, mặt cắt đứng ngang phần phụ phải phát hiện một cấu trúc dạng nang có nhiều vách dày, không đều và thành không đề. Siêu âm Doppler không thấy dòng chảy trong các vách. Phẫu thuật được tiến hành và phân tích bệnh học khẳng định cấu trúc dạng nang này là u nội mạc tử cung.

Nếu một nang chứa vách mỏng ( < 3 mm) hoặc có nốt vôi nhỏ ở thành thì khả năng rất cao nó là lành tính và nên được quản lý như nang đơn thuần [12]. Nếu nang chứa nhiều vách mỏng và vô mạch, hoặc nốt đặc vô mạch ở thành, hoặc thành không đều thì nhiều khả năng nó u lành tính và nên được mô tả đặc điểm là dạng trung gian (giữa lành và ác tính) nhưng nhiều khả năng lành tính. Trong trường hợp như vậy, bệnh nhân nên được theo dõi siêu âm ngắn hạn trong 6-12 tuần (Hình 18); nếu bệnh nhân chưa mãn kinh, siêu âm nên  thực hiện ở thời điểm khác của chu kỳ để tránh các sai sót diễn giải liên quan đến sự phát triển nang mới. Nếu tổn thương tồn tại kéo dài hoặc bệnh nhân sau mãn kinh, nên cân nhắc chụp cộng hưởng từ tiêm thuốc đối quang để giúp xác định bất thường ở thành có mạch máu không. Nếu có mạch máu, nên phẫu thuật đánh giá tổn thương [12].

F18a.medium

Hình 18. các tổn thương phần phụ dạng trung gian ở một phụ nữ 32 tuổi biểu hiện đau bên phải khung chậu. (a) Ảnh siêu âm Doppler đường âm đạo, mặt cắt đứng dọc buồng trứng phải phát hiện một tổn thương dạng nang có thành không đều (mũi tên).

F18b.medium

Hình 18. các tổn thương phần phụ dạng trung gian ở một phụ nữ 32 tuổi biểu hiện đau bên phải khung chậu. (b) Ảnh siêu âm Doppler đường âm đạo, chúc đầu dò xuống theo mặt cắt đứng ngang buồng trứng phải thấy không có dòng chảy mạch máu trong thành nang. Tổn thương dạng nang này được phân loại là trung gian nhưng khả dĩ là lành tính và tiêu đi trong vòng 3 tháng.

Những đặc điểm gây lo lắng đến bệnh ác tính biểu mô buồng trứng (epithelial ovarian malignancy) bao gồm các nang có vách dày hoặc các vùng ở thành dày khu trú ( 3mm) có phân bố mạch máu (Hình 19). Trong một nghiên cứu thống kê được tiến hành để xác định các đặc điểm có thể giúp phân biệt lành tính với ác tính thì đặc điểm dự báo ác tính cao nhất là khối đặc có dòng chảy mạch máu ở trung tâm (Hình 20). Khi một u nang có những tính chất này thì không nên theo dõi bằng các phương pháp chẩn đoán hình ảnh, mà đúng hơn thì gửi đi phẫu thuật để đánh giá. Dịch ổ bụng (khi có) cũng gây lo lắng và thường tạo điều kiển để nhìn thấy rõ các nốt di căn cấy ở mạc nối hoặc phúc mạc (Hình 21) [12,44]. Một khi tính chất ác tính đã được khẳng định thì cần chụp cắt lớp vi tính để đánh giá sự phát tán của bệnh.

Mặc dù dòng chảy Doppler sức cản thấp được coi là gây lo ngại đến mạch máu tân tạo ác tính, dạng phổ sóng này cũng có thể gặp ở các bệnh lành tính, gồm có hoàng thể sinh lý. Hơn nữa, với bệnh ác tính, chỉ số sức cản có thể biến đổi từ tương đối thấp đến khá cao [45,46]. Do đó các dấu hiệu liên quan đến Doppler phổ không thể sử dụng đơn độc để phân biệt các tổn thương lành tính với ác tính. Thay vào đó, chẩn đoán nên dựa vào hình thái của tổn thương trên siêu âm thang xám (mode B) cùng với đánh giá dòng chảy mạch máu.

F19a.medium

Hình 19. Bệnh biểu mô nguyên phát ác tính ở một bệnh nhân nữ có khối khung chậu. (a) Ảnh siêu âm đường âm đạo, mặt cắt đứng dọc phần phụ phải phát hiện một khối dạng nang (dấu điện tử) có các vách và cấu thành đặc, không đều đặn.

F19b.medium

Hình 19. Bệnh biểu mô nguyên phát ác tính ở một bệnh nhân nữ có khối khung chậu. (b) Ảnh siêu âm duplex (mode B kết hợp xung tín hiệu Doppler) đường âm đạo, mặt cắt đứng dọc buồng trứng phải cho thấy mạch máu sức cản thấp ở trong các thành phần đặc của tổn thương, đây là một dấu hiệu đặc trưng cho bệnh lý biểu mô nguyên phát ác tính của buồng trứng và yêu cầu phẫu thuật đánh giá hơn là theo dõi. RI = chỉ số sức cản.

F20a.medium

Hình 20. Khối ác tính kích thước lớn ở khung chậu một bệnh nhân nữ 68 tuổi. (a) Ảnh siêu âm Doppler màu đường thành bụng, mặt cắt đứng dọc phần phụ phải cho thấy một cấu trúc lớn, dạng nang có cấu thành đặc được phân bố mạch máu.

F20b.medium

Hình 20. Khối ác tính kích thước lớn ở khung chậu một bệnh nhân nữ 68 tuổi. (b) Ảnh siêu âm duplex đường âm đạo chứng minh dòng chảy mạch máu có sức cản thấp. Đặc điểm này đã được nghiên cứu có giá trị dự báo ác tính khá cao. RI = chỉ số sức cản.

F21a.medium

Hình 21. Các di căn của ung thư buồng trứng. (a) Ảnh siêu âm bề mặt bằng đầu dò thẳng 7 MHz cho thấy một nốt mô mềm (các mũi tên) ở bề mặt phúc mạc có dịch ổ bụng bao quanh, đây là dấu hiệu di căn cấy vào phúc mạc.

F21b.medium

Hình 21. Các di căn của ung thư buồng trứng. (b) Ảnh siêu âm qua thành bụng, mặt cắt đứng dọc ¼ trên phải ổ bụng ở bệnh nhân khác cho thấy tràn dịch ổ bụng có dày phúc mạc (các mũi tên) và các nốt (* đen), cùng nốt cấy bề mặt gan (* trắng).

F21c.medium

Hình 21. Các di căn của ung thư buồng trứng. (c) Ảnh siêu âm bề mặt bằng đầu dò thẳng 7 MHz ở bệnh nhân thứ ba cho thấy “bánh” mô mềm  (*) do di căn mạc nối. Lưu ý ruột bị đẩy ra sau (mũi tên).

Các khối đặc ở phần phụ có thể thuộc buồng trứng hoặc ngoài buồng trứng. Một tổn thương ngoài buồng trứng tương đối phổ biến đôi khi gây lầm lẫn chẩn đoán là u xơ tử cung có cuống. Nhìn thấy rõ buồng trứng cùng bên và phát hiện dòng chảy mạch máu vào cuống của u xơ giúp phân biệt nó với khối đặc của buồng trứng. Các khối đặc của buồng trứng thường là các khối tân sinh (u); nên cân nhắc tới u mô đệm nguồn gốc cột sinh dục (sex cord stromal tumor) hoặc bệnh di căn (~ 10% các khối u buồng trứng). U mô đệm cột giơi tính chiếm xấp xỉ 8% các khối u buồng trứng [47] và bao gồm các khối u hoạt hoá hormon như u tế bào hạt (granulosa cell tumors, có triệu trứng của cường estrogen và tiềm năng ác tính thấp) và u tế bào Sertoli-Leydig (có triệu chứng nam hoá và là u lành tính hoặc ác tính độ 1) (Hình 22). Các khối đặc còn có u tế bào vỏ-xơ (fibroma-thecoma) là những u có bóng cản âm rất mạnh (Hình 23). Hiếm hoi, những khối u lành tính này có thể liên quan với hội chứng Meig, hội chứng gồm có tràn dịch ổ bụng và khoang màng phổi. Di căn tới buồng trứng, chiếm nhiều nhất tới 15% các bệnh ác tính của buồng trứng, thường do phát tán từ đường dạ dày-ruột, vú, nội mạc tử cung [48]. Di căn tới buồng trứng hai bên là điển hình, và hình ảnh siêu âm của những khối u này rất thay đổi. Trong phần lớn các trường hợp, kích thước chung thương nhỏ so với u biêu mô ác tính, cấu thành đặc chiếm ưu thế và có các nang rải rác.

Các khối u ác tính buồng trứng gây lo sợ nhiều và thúc đẩy chẩn đoán (đến cùng) và điều trị. Tuy nhiên tuyệt đại đa số các tổn thương buồng trứng và phần phụ được phát hiện khi siêu âm là lành tính. Trên cơ sở các dạng siêu âm đặc trưng hoặc các hình thái của các tổn thương buồng trứng và phần phụ, người làm siêu âm có kinh nghiệm có thể đánh giá các khối theo cách chủ quan và phân loại tổn thương lành tính và ác tính một cách thích hợp là 93% [5].

F22.medium

Hình 22. Nam hoá xảy ra ở một bệnh nhân nữ 52 tuổi. Ảnh siêu âm duplex đường âm đạo, mặt cắt đứng dọc buồng trứng trá cho thấy một khối đặc có mạch máu trong tổn thương với sức cản thấp. Phân tích mô bệnh học chứng minh khối là u tế bào Sertoli-Leydig.

F23.medium

Hình 23. Một khối của buồng trứng phải được phát hiện tình cờ ở một phụ nữ 23 tuổi bị rong kinh. Ảnh siêu âm đường trong âm đạo, mặt cắt đứng dọc buồng trứng phải (dấu cộng điện tử) phát hiện một khối đặc của buồng trứng có bóng cản âm mạnh, các dấu hiệu này là đặc trưng của u xơ buồng trứng, nó đã được chứng minh sau phẫu thuật.

Triển vọng phát triển tương lai

Báo cáo kết quả siêu âm thống nhất và chính xác là cực kỳ quan trọng. Giống như trong báo cáo về vú (xem BI-RADS) [49] và bệnh gan giai đoạn cuối (xem LI-RADS) [50], trong năm 2009 một nhóm các nhà siêu âm phụ khoa Hiệp hội X quang Mỹ đã giới thiệu GI-RADS (Gynecology Imaging Reporting and Data System). Hệ thống linh hoạt này sử dụng phân tích nhận dạng để đánh giá các khối phần phụ rồi phân loại thành 5 độ, từ lành tính tới ác tính [51]. Các khối độ 1 được coi là chắc chắn lành tính, các khối độ 5 được coi là rất có thể là ác tính. Các khối độ 2 đến 4 được phân loại lần lượt là rất có thể lành tính, có thể lành tính, và có thể ác tính. Gần đây, các nhà nghiên cứu đã báo cáo kết quả đánh giá tiến cứu 342 khối khung chậu sử dụng hệ thống GI-RADS [52]. Nghiên cứu sử dụng hệ thống thuật ngữ này được tiến hành độc lập ở hai viện và chỉ có một sai sót xảy ra. Sai sót liên quan tới một tổn thương được phân loại là độ 3 (có thể lành tính), thực chất nó là ung thư biểu mô thanh dịch của buồng trứng giai đoạn 1a. Hơn nữa, trong 103 của 116 khối u (89%) được phân thành độ 5 (rất có thể ác tính) đã đượcchứng minh là ác tính. Độ nhạy của hệ thống báo cáo GI-RADS trong dự báo ác tính là 99%, với độ đặc hiệu là 86%. Mức độ tương đồng giữa các quan sát viên (người làm siêu âm) đối với hệ thống phân loại này cũng rất tốt, và có sự đồng thuận toàn thể của các bác sỹ quản lý lâm sàng bệnh nhân (bác sỹ gửi bệnh nhân tới siêu âm) là hệ thống báo cáo này rất “hữu ích” [52].

Do đó, hệ thống phân loại GI-RADS có tiềm năng ảnh hưởng tới quyết định lâm sàng và quản lý bệnh nhân Hy vọng rằng nghiên cứu thêm sẽ khẳng định tính hữu ích của phương pháp này.

Kết luận

Đánh giá khối phần phụ là một công việc thường xuyên của bác sỹ siêu âm. Hiểu và áp dụng thông tin trong bài báo này có thể cho phép phân loại chính xác hơn các khối của phần phụ thành ba nhóm: lành tính, trung gian, ác tính. Nhận ra 6 thực thể lành tính của buồng trứng và 3 thực thể lành bệnh lý tính phổ biến nhất của phần phụ giúp tránh được các đánh giá thêm bằng các phương pháp chẩn đoán hình ảnh khác một cách không cần thiết. Ngược lại, nhận ra các đặc điểm gợi ý nhiều đến bệnh ách tính sẽ dẫn đến quản lý đúng lúc hơn là sự chậm trễ do phải chụp thêm. Cuối cùng, báo cáo và các khuyến cáo quản lý đúng được dùng để giảm bớt lo lắng và diễn giải nhầm.

Ghi chú

– BI-RADS = Breast Imaging Reporting and Data System (tạm dịch là Hệ thống dữ liệu và Báo cáo hình ảnh vú). Tập ảnh và Hệ thống thuật ngữ này (BIRADS atlas) được Hội X quang Mỹ giữ bản quyền và đã được dịch ra 8 ngôn ngữ và áp dụng rộng rãi trên thế giới.

– GI-RADS = Gynecology Imaging Reporting and Data System (tạm dịch là Hệ thống dữ liệu và Báo cáo hình ảnh phụ khoa)

– LI-RADS = Liver Imaging Reporting and Data System (tạm dịch là Hệ thống dữ liệu và Báo cáo hình ảnh gan)

Tham khảo

3. Brown DL. A practical approach to the ultrasound characterization of adnexal masses. Ultrasound Q 2007;23(2):87–105.

5. Valentin L, Ameye L, Savelli L, et al. Adnexal masses difficult to classify as benign or malignant using subjective assessment of gray-scale and Doppler ultrasound findings: logistic regression models do not help. Ultrasound Obstet Gynecol 2011;38 (4):456–465.

12. Levine D, Brown DL, Andreotti RF, et al. Management of asymptomatic ovarian and other adnexal cysts imaged at US: Society of Radiologists in Ultrasound Consensus Conference Statement. Radiology 2010;256(3): 943–954.

13. Patel MD, Feldstein VA, Filly RA. The likelihood ratio of sonographic findings for the diagnosis of hemorrhagic ovarian cysts. J Ultrasound Med 2005;24 (5):607–614.

16. Patel MD, Feldstein VA, Chen DC, Lipson SD, Filly RA. Endometriomas: diagnostic performance of US. Radiology 1999;210(3):739–745.
17. Asch E, Levine D. Variations in appearance of endometriomas. J Ultrasound Med 2007;26(8): 993–1002.

18. Bhatt S, Kocakoc E, Dogra VS. Endometriosis: sonographic spectrum. Ultrasound Q 2006;22(4): 273–280.

27. Guttman PH Jr. In search of the elusive benign cystic ovarian teratoma: application of the ultrasound “tip of the iceberg” sign. J Clin Ultrasound 1977;
5(6):403–406.

35. American College of Obstetricians and Gynecologists. ACOG Practice Bulletin. Management of adnexal masses. Obstet Gynecol 2007;110(1):
201–214.
36. Castillo G, Alcázar JL, Jurado M. Natural history of sonographically detected simple unilocular adnexal cysts in asymptomatic postmenopausal women. Gynecol Oncol 2004;92(3):965–969.
37. Modesitt SC, Pavlik EJ, Ueland FR, DePriest PD, Kryscio RJ, van Nagell JR Jr. Risk of malignancy in unilocular ovarian cystic tumors less than 10 centimeters in diameter. Obstet Gynecol 2003;102(3): 594–599.
38. Cheng EJ, Kurman RJ, Wang M, et al. Molecular genetic analysis of ovarian serous cystadenomas. Lab Invest 2004;84(6):778–784.
39. Kalish GM, Patel MD, Gunn ML, Dubinsky TJ. Computed tomographic and magnetic resonance features of gynecologic abnormalities in women presenting with acute or chronic abdominal pain. Ultrasound Q 2007;23(3):167–175.
40. Borders RJ, Breiman RS, Yeh BM, Qayyum A, Coakley FV. Computed tomography of corpus luteal cysts. J Comput Assist Tomogr 2004;28(3):340–342.
41. Potter AW, Chandrasekhar CA. US and CT evaluation of acute pelvic pain of gynecologic origin in nonpregnant premenopausal patients. RadioGraphics
2008;28(6):1645–1659.
42. Guinet C, Ghossain MA, Buy JN, et al. Mature cystic teratomas of the ovary: CT and MR findings. Eur J Radiol 1995;20(2):137–143.
43. Valentin L. Use of morphology to characterize and manage common adnexal masses. Best Pract Res Clin Obstet Gynaecol 2004;18(1):71–89.
44. Brown DL, Doubilet PM, Miller FH, et al. Benign and malignant ovarian masses: selection of the most discriminating gray-scale and Doppler sonographic features. Radiology 1998;208(1):103–110.
45. Stein SM, Laifer-Narin S, Johnson MB, et al. Differentiation of benign and malignant adnexal masses: relative value of gray-scale, color Doppler, and spectral Doppler sonography. AJR Am J Roentgenol 1995;164(2):381–386.
46. Buy JN, Ghossain MA, Hugol D, et al. Characterization of adnexal masses: combination of color Doppler and conventional sonography compared
with spectral Doppler analysis alone and conventional sonography alone. AJR Am J Roentgenol 1996;166(2):385–393.
47. Shanbhogue AK, Shanbhogue DK, Prasad SR, Surabhi VR, Fasih N, Menias CO. Clinical syndromes associated with ovarian neoplasms: a comprehensive review. RadioGraphics 2010;30(4): 903–919.
48. de Waal YR, Thomas CM, Oei AL, Sweep FC, Massuger LF. Secondary ovarian malignancies: frequency, origin, and characteristics. Int J Gynecol
Cancer 2009;19(7):1160–1165.
49. Burnside ES, Sickles EA, Bassett LW, et al. The ACR BI-RADS experience: learning from history. J Am Coll Radiol 2009;6(12):851–860.
50. radRounds Radiology Network. LI-RADS-ACR Initiative to Improve Quality and Patient Care. Posted by radRounds Radiology Network on September 4, 2009 at 10:07am. http://www.radrounds.com/profiles/blogs/lirads-acr-initiative-to. Accessed February 20, 2012.
51. Amor F, Vaccaro H, Alcázar JL, León M, Craig JM, Martinez J. Gynecologic imaging reporting and data system: a new proposal for classifying adnexal
masses on the basis of sonographic findings. J Ultrasound Med 2009;28(3):285–291.
52. Amor F, Alcázar JL, Vaccaro H, León M, Iturra A. GI-RADS reporting system for ultrasound evaluation of adnexal masses in clinical practice: a prospective multicenter study. Ultrasound Obstet Gynecol2011; 38(4): 450–455.

Để lại bình luận

5 phản hồi

  1. thanh

     /  02.01.2013

    anh oi em muon xin anh cac tieu chuan danh gia phan do GI-RADS va LI-RADS duoc khong? cam on anh nhieu.

    Trả lời
  2. xin cám ơn bác rất nhiều

    Trả lời
  3. Trần Phong

     /  16.03.2015

    Cảm ơn Bác rất nhiều.

    Trả lời

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: