Khái niệm hiện nay về chẩn đoán hình ảnh hạch bạch huyết: phần 1-các phương pháp thông dụng

Current Concepts in Lymph Node Imaging

Maha Torabi, MD; Suzanne L. Aquino, MD; and Mukesh G. Harisinghani, MD

Department of Radiology, Massachusetts General Hospital, Boston, Massachusetts

J Nucl Med 2004; 45:1509–1518

———————————————–

(Bài dài nên tôi post hai lần, mời các bạn đón đọc phần tiếp theo)

Khi ung thư được phát hiện, phần lớn các khối u nguyên phát được đánh giá giai đoạn theo phân loại AJCC (American Joint Committee on Cancer) [1] về kích thước và lan rộng khu vực của khối u (T), sự liên quan hạch bạch huyết khu vực (N), hoặc di căn xa (M). Đánh giá tình trạng và giai đoạn của hạch bạch huyết rất quan trọng bởi vì di căn hạch ở nhiều loại ung thư nguyên phát làm hạn chế các lựa chọn điều trị, và cũng thiết yếu để xác định tiên lượng. Thí dụ, trong ung thư tiền liệt tuyến các bệnh nhân có hạch di căn sẽ không được phẫu thuật tiệt căn, thay vào đó là điều trị bổ trợ kiểm soát bệnh [2]. Số lượng các hạch bạch huyết bị các tế bào ác tính xâm nhập cũng có ảnh hưởng trong dự báo kết quả sống sót của bệnh nhân. Thí dụ, trong ung thư vú, 1 – 3 hạch bạch bị di căn đặt bệnh nhân trong tình trạng N1 và tỉ lệ sống sót 10 năm là trên 50%. Tuy nhiên, nếu 10 hoặc nhiều hạch hơn bị di căn thì bệnh nhân ở giai đoạn  IIIB hoặc giai đoạn IV và tỉ lệ sống sót 10 năm là dưới 25% [3]. Do đó đánh giá giai đoạn hạch bạch huyết trước điều trị bằng các phương pháp chẩn đoán hình ảnh và các thủ thuật xâm lấn có vai trò rất quan trọng. Trong một số bệnh ác tính thì chẩn đoán hình ảnh có độ chính xác thấp, người ta cần phẫu thuật và làm đông lạnh các mảnh bệnh phẩm của hạch bạch huyết (vào thời điểm cắt khối u nguyên phát). Mặc dù đánh giá giai đoạn bằng phẫu thuật hạch bạch huyết và đánh giá mô học kỹ lưỡng các hạch bạch huyết được coi là tiêu chuẩn vàng ở nhiều loại bệnh ác tính-thí dụ như ung thư tiền liệt tuyến-nhưng kỹ thuật này là xâm phạm cơ thể và bị hạn chế bởi trường phẫu thuật khi lấy mẫu hạch. Hơn nữa, kỹ thuật này có độ chính xác hạn chế, thí dụ như báo cáo của Davis [4], trong phân tích mô học các mảnh cắt hạch trong mổ được làm đông lạnh cho kết quả âm tính giả cao tới 33% ở các hạch chậu của các bệnh nhân ung thư tiền liệt tuyến. Do đó cần phát triển các kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh có độ chính xác cao để đánh giá hạch trước phẫu thuật .

Trước thời kỳ của các kỹ thuật tạo hình ảnh mặt cắt, chụp X quang hệ bạch huyết hai chân là thử nghiệm chuẩn để đánh giá và chia giai đoạn các hạch bạch huyết ở vùng bụng và khung chậu. Kỹ thuật này đánh giá và biểu thị đặc điểm hạch bạch huyết dựa vào các thay đổi cấu trúc bên trong [5]. Tuy nhiên thủ thuật xâm phạm cơ thể, khó nhọc, và không thể hiển thị rõ ràng các hạch bạch huyết ở trên mức đốt sống thắt lưng thứ hai và các hạch nằm ngoài khoang sau phúc mạc. Chụp X quang hệ bạch huyết đã được các kỹ thuật tạo hình ảnh lớp cắt, CT, MRI thay thế hiệu quả. Những phương pháp này được tiến hành thường qui để đánh giá u nguyên phát và có thể hiển thị dễ dàng hạch bạch huyết dọc theo các đường dẫn lưu của khối u.

Bài này tập trung miêu tả ngắn gọn sự phát triển của các kỹ thuật hình ảnh từ những phương pháp tạo ảnh theo giải phẫu thông thường đến các kỹ thuật phân tử để đánh giá sinh lý và chức năng các hạch bạch huyết.

Siêu âm (Ultrasound)

Mặc dù phổ biến và dễ sử dụng, siêu âm có những hạn chế cố hữu trong đánh giá các nhóm hạch bạch huyết ở trung thất, khoang sau phúc mạc, và vùng sâu của khung chậu. Tuy vậy, siêu âm đã được chứng minh là có lợi trong đánh giá các hạch bạch huyết cổ ở những bệnh nhân ung thư biểu mô vùng đầu và cổ [6-8]. Các hạch bạch huyết ở cổ xuất hiện trên siêu âm dưới dạng các cấu trúc giảm âm thuôn dẹt có lượng mỡ ít nhiều ở rốn hạch [9] (Hình 1). Rốn hạch có thể giàu mạch, nhưng thường thì ít mạch máu [10]. Thâm nhiễm ác tính làm thay đổi các đặc điểm siêu âm của hạch, khiến hạch to lên và thường tròn, tăng phân bố mạch máu ở ngoại vi hoặc hỗn hợp [11] (Hình 2). Sử dụng những đặc điểm đó trong phân biệt hạch cổ lành tính và ác tính, siêu âm đã chứng minh độ chính xác 89%-94% [12]. Thí dụ ở những bệnh nhân ung thư tuyến giáp, đánh giá siêu âm trước mổ các hạch bạch huyết cổ không những chính xác để phát hiện di căn hạch mà còn làm thay đổi phương thức phẫu thuật, làm dẽ dàng cắt bỏ hoàn toàn u nguyên phát và tái phát nhỏ tại khu vực [13]. Wunderbaldinger và cộng sự [14] đã đánh giá các di căn hạch bạch huyết dạng nang ở bệnh nhân ung thư biểu mô nhú tuyến giáp, và trong phần lớn các trường hợp họ thấy các hạch bạch huyết di căn có thành dày lên, có âm trong nang, nhiều vách và nốt bám thành.

Hình 1. Hình thái siêu âm của hạch bạch huyết bình thường. Ảnh cho thấy cấu trúc giảm âm, dài giống hình xì gà (mũi tên).

Hình 2. Hình thái siêu âm của hạch bạch huyết ác tính. Ảnh cho thấy hạch bạch huyết to, tròn có thành phần đặc và nang hỗn hợp ở một bệnh nhân ung thư nhu tuyến giáp di căn.

Siêu âm nội soi (endoscopic ultrasound, EUS) cũng được dùng để đánh giá hạch bạch huyết khu vực trong ung thư biểu mô thực quản, tuỵ, và trực tràng. Trong một nghiên cứu mới đây, Saltzman (15) công bố rằng EUS là kỹ thuật chính xác nhất để đánh giá giai đoạn khu vực-tại chỗ (T và N) đối với ung thư thực quản, và các chiến lược đánh giá đoạn tối ưu cho ung thư thực quản nên sử dụng chọc hút kim nhỏ qua siêu âm nội soi kết hợp với chụp CT hoặc PET (15).

Phương pháp tạo ảnh lớp cắt

Các phương pháp tạo hình ảnh lớp cắt hiện nay như CT và MRI là không xâm phạm cơ thể, được bệnh nhân chấp nhận, và thời gian chụp ngắn. Do những đặc điểm đó, các phương pháp này trở thành trụ cột để đánh giá nhiều loại u nguyên phát. Việc sử dụng các phương pháp đó đánh giá hạch bạch huyết dựa vào giải phẫu hạch hơn là sinh lý và chức năng. Trên ảnh lớp cắt, một hạch bạch huyết bình thường có kích thước < 1 cm, bờ rõ và nhẵn, mật độ hoặc tín hiệu đồng nhất, đồng đều. Phần lớn các hạch lành tính có rốn mỡ ở trung tâm, nó có đặc điểm riêng biệt trên CT và MRI (Hình 3 và 4). Hình dạng hạch bạch huyết có thể khác nhau tuỳ theo vị trí giải phẫu. Các hạch bạch huyết bình thường có hình bàu dục hoạc hình xì gà. Tiêu chuẩn chủ yếu để đánh giá giai đoạn hạch theo CT và MRI là kích thước hạch (Bảng 1), có thể đánh giá thêm hình thái hạch, thay đổi cường độ tín hiệu, và ngấm thuốc đối quang từ theo động học khi chụp MRI. Tuy nhiên, sử dụng kích thước làm yếu tố phân biệt chủ chốt giữa hạch lành tính và ác tính có những hạn chế. Rất khó thiết lập một giá trị ngưỡng cụ thể để phân biệt các hạch lành tính với ác tính, bởi vì ngưỡng kích thước nhỏ cho độ nhạy cao, độ đặc hiệu thấp và ngưỡng kích thước cao hơn cải thiện độ đặc hiệu, nhưng độ nhạy giảm đi [22-24, 26-28]. Phương pháp đánh giá bằng kích thước theo truyền thống thường bỏ sót di căn, nhất là khi di căn chỉ ở mức vi thể hoặc thâm nhiễm bán phần hạch bạch huyết. Tiêu chuẩn kích thước cụ thể cũng kém đi do viêm hoặc nhiễm khuẩn làm hạch bạch huyết to lên, dẫn đến biểu hiện đặc điểm không chính xác một hạch bạch huyết lành tính thành ác tính. Chỉ dựa vào tiêu chuẩn kích thước thì MRI không khác [29] thậm chí còn hơi kém [30] CT trong đánh giá di căn hạch bạch huyết khu vực.

Hình 3. Hạch bạch huyết lành tính có rốn mỡ trung tâm. Ảnh CT cắt ngang, tiêm thuốc cản quang cho thấy hạch giữa tĩnh mạch chủ dưới-động mạch chủ (mũi tên) có rốn mỡ trung tâm.

Hình 4. Ảnh T2W cắt ngang phần thấp ổ bụng cho thấy hạch giữa tĩnh mạch chủ dưới-động mạch chủ (mũi tên) có rốn mỡ trung tâm (đầu mũi tên).

Bảng 1. Tóm tắt y văn về giới hạn kích thước lớn nhất của hạch bạch huyết lành tính theo vị trí giải phẫu trên ảnh lớp cắt

Vị trí giải phẫu

Tham khảo

Hạch bạch huyết

Tác giả

Số

Năm

Đường kính ngang tối đa (mm)

Đường kính dọc tối đa (mm)

Nách Yoshimura và cs

(16)

1999

10

ĐM vú trong Kinoshita và cs

(17)

1999

5

Khung chậu Vinnicombe và cs

(18)

1995

10

Trung thất Ingram và cộng sự (cs)

(19)

1989

10

Vùng cơ nhị thân-tĩnh mạch cảnh Van den Brekel và cs

(20)

1990

11

Các hạch cổ không thuộc khoang sau hầu Van den Brekel và cs

(20)

1990

10

Phía bên của khoang sau hầu Van den Brekel và cs

(20)

1990

5

Bẹn Hawnaur và cs

(21)

2002

10

Các nghiên cứu lâm sàng đánh giá giai đoạn ung thư dựa vào kích thước hạch bạch huyết sử dụng CT và MRI có kết quả gây bàn cãi, nhưng nói chung độ chính xác thấp (Bảng 2). Galiardi và cộng sự [25] thấy rằng trong ung thư trực tràng MRI có độ nhạy 67%, độ đặc hiệu 71%, độ chính xác 69% trong phát hiện hạch ác tính. Trong đánh giá ung thư cổ tử cung, Bipat và cộng sự [26] đánh giá độ chính xác của CT và MRI bằng cách duyệt lại 57 nghiên cứu có chất lượng cao từ năm 1985 đến 2002 và kết luận độ nhạy của MRI và CT trong phát hiện hạch di căn lần lượt là 60% và 43%. Do đó, người ta đã kết luận rằng kích thước hạch bạch huyết không phải là một thông số tin cậy để đánh giá hạch di căn [31-33].

Bảng 2. Tóm tắt các thử nghiệm lâm sàng CT/MRI đã được công bố

Tham khảo

Số lượng bệnh nhân

Vùng

CT/MRI

Tác giả

Số

Năm

Độ nhạy (%)

Độ đặc hiệu (%)

Độ chính xác (%)

Kau và cs

(22)

1999

70

Đầu cổ

65/88

47/41

Dwamena và cs

(23)

1999

2226

Phổi

60/­­–*

77/–*

75/–*

Pieterman và cs

(24)

2000

102

Phổi

75/–*

66/–*

69/–*

Gagliardi và cs

(25)

2002

28

Khung chậu

–*/67

–*/71

–*/69

Bipat và cs

(26)

2003

(không biết)

Cổ tử cung

43/60

Cả hai > 90

Anzai và cs

(27)

2003

147

Toàn thân

54

82

68

Antoch và cs

(28)

2003

27

Phổi

70/–*

59/–*

63/–*

                                    (ghi chú: * Phương pháp này không được đánh giá)

Việc chỉ có các thông số kích thước có độ chính xác thấp đã thúc đẩy nghiên cứu đánh giá hình thái hạch bằng CT và MRI, cùng với đánh giá các thay đổi cường độ tín hiệu, cũng như các thông số động học ngấm thuốc đối quang từ của MRI. Thêm tiêu chuẩn hình thái học để đánh giá các hạch bạch huyết (bình thường có hình trứng) nhằm tìm cách khai thác những thay đổi hình dạng do thâm nhiễm u. Những thay đổi đó có thể là hạch trở nên tròn hơn (tỉ lệ chiều dài/chiều ngang giảm đi), hoặc phì đại vỏ lệch tâm [16,34]. Lấy ngưỡng kích thước được dùng phổ biến ở khung chậu giải thích cho những thay đổi hình thái, người ta dùng ngưỡng đường kính 10 mm cho các hạch hình trứng trong khi dùng ngưỡng nhỏ hơn (8 mm) cho các hạch hình tròn [34]. Trong một nghiên cứu 4043 hạch nách ở các bệnh nhân ung thư vú, sử dụng phì đại vỏ lệch tâm hoặc điều kính chiều dài > 10 mm cùng với tỉ lệ chiều dài/chiều ngang < 1.6 tạo nên độ nhạy 79% và độ đặc hiệu 93% trong phát hiện di căn hạch bạch huyết, trong đó gần như tất cả hạch âm tính giả được chứng minh bị di căn có kích thước (đường kính dọc) < 10 mm [16].

Một số nghiên cứu đã điều tra tính hữu dụng của động học thuốc đối quang bằng chụp cộng hưởng từ (dynamic contrast-enhanced MRI) để phân biệt hạch bạch huyết bình thường và di căn [35,36]. So sánh đơn giản cường độ tín hiệu sau khi tiêm thuốc đối quang từ đã không cho thấy hiệu quả phân biệt hạch bạch huyết lành tính và ác tính [37]. Đúng hơn, phương pháp này dựa vào phân tích động học ngấm thuốc của các hạch bạch huyết sau tiêm bolus (tiêm nhanh, nhiều) chất đối quang từ (gadolinium chelate) và đánh giá những thay đổi ở vi tuần hoàn hạch như đặc điểm dòng chảy, lưu lượng, tính thấm vi mạch máu, và thể tích riêng phần (fractional volume) của khoang ngoại bào ngoài mạch máu tăng lên. Fischbein và cộng sự [36] đánh giá các hạch bạch huyết cổ 21 bệnh nhân ung thư biểu mô tế bào vảy vùng đầu và cổ. Họ phát hiện thời gian tới đỉnh kéo dài hơn, ngấm thuốc tới đỉnh thấp hơn, dốc tối đa thấp hơn, và dốc rửa thuốc chậm hơn có ý nghĩa ở những hạch bạch huyết liên quan đến u so với những hạch bạch huyết bình thường. Các tác giả đã kết luận rằng trọng hạch bạch huyết ác tính có giảm vận chuyển chất đối quang tới mô và thể tích khoang ngoại bào giảm. Họ cũng chỉ ra khó khăn trong chuẩn hoá những thông số để có được dữ liệu có thể lặp lại. Trong một nghiên cứu hạch bạch huyết trung thất ở 9 bệnh nhân ung thư biểu mô phế quản, Laissy và cộng sự [38] đã phát hiện ngấm thuốc đối quang đạt đỉnh ở các hạch bạch huyết trong vòng 60-80 giây sau tiêm thuốc đối quang, sau đó có sự thải thuốc chậm. Trái lại, các hạch bạch huyết phản ứng biểu hiện sự ngấm thuốc tăng dần mà không có giá trị đỉnh nào trong vòng 6-8 phút đầu.

(còn phần tiếp)

Tham khảo

1. American Joint Committee on Cancer, American College of Surgeons. AJCC
Cancer Staging Manual. 5th ed. Fleming ID, Cooper JS, Henson DE, et al., eds.
Philadelphia, PA: American Cancer Society; 1997.
2. Cheng L, Zincke H, Blute ML, Bergstralh EJ, Scherer B, Bostwick DG. Risk of
prostate carcinoma death in patients with lymph node metastasis. Cancer. 2001;91:66–73.
3. Yarbro JW, Page DL, Fielding LP, Partridge EE, Murphy GP. American Joint
Committee on Cancer Prognostic Factors Consensus Conference. Cancer. 1999;
86:2436–2446.
4. Davis GL. Sensitivity of frozen section examination of pelvic lymph nodes for
metastatic prostate carcinoma. Cancer. 1995;76:661–668.
5. Guermazi A, Brice P, Hennequin C, Sarfati E. Lymphography: an old technique retains its usefulness. Radiographics. 2003;23:1541–1558.
6. Baatenburg de Jong RJ, Rongen RJ, De Jong PC, et al. Screening for lymph nodes in the neck with ultrasound. Clin Otolaryngol. 1988;13:5–9.
7. Vassallo P, Wernecke K, Roos N, Peters PE. Differentiation of benign from
malignant superficial lymphadenopathy: the role of high resolution US. Radiol-
ogy. 1992;183:215–220.
8. Vassallo P, Edel G, Roos N, et al. In-vitro high-resolution ultrasonography of
benign and malignant lymph nodes: a sonographic-pathologic correlation. Invest Radiol. 1993;28:698–705.
9. Marchal G, Oyen R, Verschakelen J, Gelin J, Baert AL, Stessens RC. Sono-
graphic appearance of normal lymph nodes. J Ultrasound Med. 1985;4:417–419.
10. Ying M, Ahuja A. Sonography of neck lymph nodes. Part I. Normal lymph nodes. Clin Radiol. 2003;58:351–358.
11. Ahuja A, Ying M. Sonography of neck lymph nodes. Part II. Abnormal lymph nodes. Clin Radiol. 2003;58:359–366.
12. Griffith JF, Chan AC, Ahuja AT, et al. Neck ultrasound in staging squamous
oesophageal carcinoma: a high yield technique. Clin Radiol. 2000;55:696–701.
13. Kouvaraki MA, Shapiro SE, Fornage BD, et al. Role of preoperative ultrasonography in the surgical management of patients with thyroid cancer. Surgery. 2003;134:946–954.
14. Wunderbaldinger P, Harisinghani MG, Hahn PF, et al. Cystic lymph node
metastases in papillary thyroid carcinoma. AJR. 2002;178:693–697.
15. Saltzman JR. Section III: endoscopic and other staging techniques. Semin Thorac Cardiovasc Surg. 2003;15:180–186.
16. Yoshimura G, Sakurai T, Oura S, et al. Evaluation of axillary lymph node status in breast cancer with MRI. Breast Cancer. 1999;6:249–258.
17. Kinoshita T, Odagiri K, Andoh K, et al. Evaluation of small internal mammary lymph node metastases in breast cancer by MRI. Radiat Med. 1999;17:189–193.
18. Vinnicombe SJ, Norman AR, Nicolson V, Husband JE. Normal pelvic lymph
nodes: evaluation with CT after bipedal lymphangiography. Radiology. 1995;
194:349–355.
19. Ingram CE, Belli AM, Lewars MD, Reznek RH, Husband JE. Normal lymph
node size in the mediastinum: a retrospective study in two patient groups. Clin
Radiol. 1989;40:35–39.
20. Van den Brekel MW, Stel HV, Castelijns JA, et al. Cervical lymph node
metastasis: assessment of radiologic criteria. Radiology. 1990;177:379–384.
21. Hawnaur JM, Reynolds K, Wilson G, Hillier V, Kitchener HC. Identification of inguinal lymph node metastases from vulval carcinoma by magnetic resonance imaging: an initial report. Clin Radiol. 2002;57:995–1000.
22. Kau RJ, Alexiou C, Laubenbacher C, Werner M, Schwaiger M, Arnold W.
Lymph node detection of head and neck squamous cell carcinomas by positron
emission tomography with fluorodeoxyglucose F 18 in a routine clinical setting. Arch Otolaryngol Head Neck Surg. 1999;125:1322–1328.
23. Dwamena BA, Sonnad SS, Angobaldo JO, Wahl RL. Metastases from non-small cell lung cancer: mediastinal staging in the 1990s: meta-analytic comparison of PET and CT. Radiology. 1999;213:530–536.
24. Pieterman RM, van Putten JW, Meuzelaar JJ, et al. Preoperative staging of
non-small-cell lung cancer with positron-emission tomography. N Engl J Med.
2000;343:254–261.
25. Gagliardi G, Bayar S, Smith R, Salem RR. Preoperative staging of rectal cancer using magnetic resonance imaging with external phase-arrayed coils. Arch Surg. 2002;137:447–451.
26. Bipat S, Glas AS, van der Velden J, Zwinderman AH, Bossuyt PM, Stoker
J. Computed tomography and magnetic resonance imaging in staging of uterine
cervical carcinoma: a systematic review. Gynecol Oncol. 2003;91:59–66.
27. Anzai Y, Piccoli CW, Outwater EK, et al. Evaluation of neck and body metas-
tases to nodes with ferumoxtran 10-enhanced MR imaging: phase III safety and efficacy study. Radiology. 2003;228:777–788.
28. Antoch G, Stattaus J, Nemat AT, et al. Non-small cell lung cancer: dual-modality PET/CT in preoperative staging. Radiology. 2003;229:526–533.
29. Sohn KM, Lee JM, Lee SY, et al. Comparing MR imaging and CT in the staging of gastric carcinoma. AJR. 2000;174:1551–1557.
30. Curtin HD, Ishwaran H, Mancuso AA, et al. Comparison of CT and MR imaging in staging of neck metastases. Radiology. 1998;207:123–130.
31. Leslie A, Fyfe E, Guest P, Goddard P, Kabala JE. Staging of squamous cell
carcinoma of the oral cavity and oropharynx: a comparison of MRI and CT in T-and N-staging. J Comput Assist Tomogr. 1999;23:43–49.
32. Prenzel KL, Monig SP, Sinning JM, et al. Lymph node size and metastatic
infiltration in non-small cell lung cancer. Chest. 2003;123:463–467.
33. Tiguert R, Gheiler EL, Tefilli MV, et al. Lymph node size does not correlate with the presence of prostate cancer metastasis. Urology. 1999;53:367–371.
34. Jager GJ, Barentsz JO, Oosterhof GO, et al. Pelvic adenopathy in prostatic and
urinary bladder carcinoma: MR imaging with a three-dimensional T1-weighted
magnetization-prepared-rapid gradient-echo sequence. AJR. 1996;167: 1503–1507.
35. Szabo BK, Aspelin P, Kristoffersen Wiberg M, Tot T, Bone B. Invasive breast
cancer: correlation of dynamic MR features with prognostic factors. Eur Radiol. 2003;13:2425–2435.
36. Fischbein NJ, Noworolski SM, Henry RG, Kaplan MJ, Dillon WP, Nelson SJ.
Assessment of metastatic cervical adenopathy using dynamic contrast-enhanced MR imaging. AJNR. 2003;24:301–311.
37. Kim SH, Kim SC, Choi BI, Han MC. Uterine cervical carcinoma: evaluation of pelvic lymph node metastasis with MR imaging. Radiology. 1994;190: 807–811.
38. Laissy JP, Gay-Depassier P, Soyer P, et al. Enlarged mediastinal lymph nodes inbronchogenic carcinoma: assessment with dynamic contrast-enhanced MR imaging—work in progress. Radiology. 1994;191:263–267.
39. Greco M, Crippa F, Agresti R, et al. Axillary lymph node staging in breast cancerby 2-fluoro-2-deoxy-D-glucose-positron emission tomography: clinical evaluation and alternative management. J Natl Cancer Inst. 2001;93:630–635.
40. Vesselle H, Pugsley JM, Vallieres E, Wood DE. The impact of fluorodeoxyglucose F 18 positron-emission tomography on the surgical staging of non-small cell lung cancer. J Thorac Cardiovasc Surg. 2002;124:511–519.
41. Lardinois D, Weder W, Hany TF, et al. Staging of non-small-cell lung cancer
with integrated positron-emission tomography and computed tomography.
N Engl J Med. 2003;348:2500–2507.
42. Aquino SL, Asmuth JC, Alpert NM, Halpern EF, Fischman AJ. Improved
radiologic staging of lung cancer with 2-[18F]-fluoro-2-deoxy-D-glucose-positron emission tomography and computed tomography registration. J Comput Assist Tomogr. 2003;27:479–484.
43. Karapetis CS, Strickland AH, Yip D, Steer C, Harper PG. Use of fluorodeoxy-
glucose positron emission tomography scans in patients with advanced germ cell tumour following chemotherapy: single-centre experience with long-term follow up. Intern Med J. 2003;33:427–435.
44. Guay C, Lepine M, Verreault J, Benard F. Prognostic value of PET using
18F-FDG in Hodgkin’s disease for posttreatment evaluation. J Nucl Med. 2003;
44:1225–1231.
45. Anderson GS, Brinkmann F, Soulen MC, Alavi A, Zhuang H. FDG positron
emission tomography in the surveillance of hepatic tumors treated with radiofrequency ablation. Clin Nucl Med. 2003;28:192–197.
46. Aquino SL, Asmuth JC, Moore RH, Weise SB, Fischman AJ. Improved image interpretation with registered thoracic CT and positron emission tomography data sets. AJR. 2002;178:939–944.
47. Buchmann I, Reinhardt M, Elsner K, et al. 2-(Fluorine-18)fluoro-2-deoxy-D-glucose positron emission tomography in the detection and staging of malignant lymphoma: a bicenter trial. Cancer. 2001;91:889–899.
48. Filmont JE, Vranjesevic D, Quon A, et al. Conventional imaging and 2-deoxy-2-[18F]fluoro-D-glucose positron emission tomography for predicting the clinical outcome of previously treated non-Hodgkin’s lymphoma patients. Mol Imaging Biol. 2003;5:232–239.
49. Hain SF, Maisey MN. Positron emission tomography for urological tumours. BJU Int. 2003;92:159–164.
50. Oyama N, Akino H, Kanamaru H, et al. 11C-Acetate PET imaging of prostate
cancer. J Nucl Med. 2002;43:181–186.
51. Macapinlac HA, Humm JL, Akhurst T, et al. Differential metabolism and
pharmacokinetics of L-[1-11C]-methionine and 2-[18F]fluoro-2-deoxy-D-glucose (FDG) in androgen independent prostate cancer. Clin Positron Imaging. 1999;2:173–181.
52. Kapucu LO, Meltzer CC, Townsend DW, Keenan RJ, Luketich JD. Fluorine-18-fluorodeoxyglucose uptake in pneumonia. J Nucl Med. 1998;39:1267–1269.
53. Rennen HJ, Corstens FH, Oyen WJ, Boerman OC. New concepts in infection/inflammation imaging. Q J Nucl Med. 2001;45:167–173.
54. Gupta NC, Tamim WJ, Graeber GG, Bishop HA, Hobbs GR. Mediastinal lymph node sampling following positron emission tomography with fluorodeoxyglucose imaging in lung cancer staging. Chest. 2001;120:521–527.

55. Higashi K, Ueda Y, Seki H, et al. Fluorine-18-FDG PET imaging is negative in
bronchioloalveolar lung carcinoma. J Nucl Med. 1998;39:1016–1020.
56. Heyneman LE, Patz EF. PET imaging in patients with bronchioloalveolar cell carcinoma. Lung Cancer. 2002;38:261–266.
57. Jadvar H, Segall GM. False-negative fluorine-18-FDG PET in metastatic carcinoid. J Nucl Med. 1997;38:1382–1383.
58. Erasmus JJ, McAdams HP, Patz EF Jr, Coleman RE, Ahuja V, Goodman PC.
Evaluation of primary pulmonary carcinoid tumors using FDG PET. AJR. 1998;
170:1369–1373.
59. Kostakoglu L, Agress H Jr, Goldsmith SJ. Clinical role of FDG PET in evaluation of cancer patients. Radiographics. 2003;23:315–340.
60. Ruers TJ, Langenhoff BS, Neeleman N, et al. Value of positron emission
tomography with [F-18]fluorodeoxyglucose in patients with colorectal liver metastases: a prospective study. J Clin Oncol. 2002;20:388–395.
61. Rasanen JV, Sihvo EIT, Knuuti MJ, et al. Prospective analysis of accuracy of positron emission tomography, computed tomography, and endoscopic ultrasonography in staging of adenocarcinoma of the esophagus and the esophagogastric junction. Ann Surg Oncol. 2003;10:954–960.
62. Barranger E, Grahek D, Antoine M, Montravers F, Talbot J-N, Uzan S. Evaluation of fluorodeoxyglucose positron emission tomography in the detection of axillary lymph node metastases in patients with early-stage breast cancer. Ann Surg Oncol. 2003;10:622–627.
63. Van der Hoeven JJ, Hoekstra OS, Comans EF, et al. Determinants of diagnostic performance of [F-18]fluorodeoxyglucose positron emission tomography for axillary staging in breast cancer. Ann Surg. 2002;236:619–624.
64. DeGrado TR, Coleman RE, Wang S, et al. Synthesis and evaluation of 18F-
labeled choline as an oncologic tracer for positron emission tomography: initial findings in prostate cancer. Cancer Res. 2001;61:110–117.
65. Buck AK, Halter G, Schirrmeister H, et al. Imaging proliferation in lung tumors with PET: 18F-FLT versus 18F-FDG. J Nucl Med. 2003;44:1426–1431.
66. Dittmann H, Dohmen BM, Paulsen F, et al. [18F]FLT PET for diagnosis and
staging of thoracic tumours. Eur J Nucl Med Mol Imaging. 2003;30:1407–1412.
67. Ray P, Wu AM, Gambhir SS. Optical bioluminescence and positron emission
tomography imaging of a novel fusion reporter gene in tumor xenografts of living mice. Cancer Res. 2003;63:1160–1165.
68. Gambhir SS, Bauer E, Black ME, et al. A mutant herpes simplex virus type 1
thymidine kinase reporter gene shows improved sensitivity for imaging reporter gene expression with positron emission tomography. Proc Natl Acad Sci USA. 2000;97:2785–2790.
69. Weissleder R, Elizondo G, Wittenberg J, Rabito CA, Bengele HH, Josephson L. Ultrasmall superparamagnetic iron oxide: characterization of a new class of
contrast agents for MR imaging. Radiology. 1990;175:489–493.
70. Lee AS, Weissleder R, Brady TJ, Wittenberg J. Lymph nodes: microstructural anatomy at MR imaging. Radiology. 1991;178:519–522.
71. Harisinghani MG, Barentsz J, Hahn PF, et al. Noninvasive detection of clinically occult lymph-node metastases in prostate cancer. N Engl J Med. 2003;348:2491–2499.
72. Anzai Y, Blackwell KE, Hirschowitz SL, et al. Initial clinical experience with
dextran-coated superparamagnetic iron oxide for detection of lymph node me-
tastases in patients with head and neck cancer. Radiology. 1994;192:709–715.
73. Taupitz M, Hamm BK, Barentsz JO, Vock P, Roy C, Bellin MF. Sinerem®-
enhanced MRI imaging compared to plain MR imaging in evaluating lymph node metastases from urologic and gynecologic cancers [abstract]. Proceedings of the Radiological Society of North America; Chicago, IL; November 29–December 3, 1999. 213(P):387.
74. Taupitz M, Wallis F, Heywang-Koebrunner SH, Thibault F, Gilles R, Tardivon AA. Axillary lymph node MR imaging with Sinerem® in patients with suspected breast cancer [abstract]. Proceedings of the Radiological Society of North America; Chicago, IL; November 29–December 3, 1999. 213(P):369.
75. Harisinghani MG, Saini S, Weissleder R, et al. MR lymphangiography using
ultrasmall superparamagnetic iron oxide in patients with primary abdominal and pelvic malignancies: radiographic-pathologic correlation. AJR. 1999;172:1347–1351.
76. Hudgins PA, Anzai Y, Morris MR, Lucas MA. Ferumoxtran-10, a superpara-
magnetic iron oxide as a magnetic resonance enhancement agent for imaging
lymph nodes: a phase 2 dose study. AJNR. 2002;23:649–656.
77. Harisinghani M, Desermo W, Hahn PF, Barentsz J, Perumpilichiria J, Weissleder R. MR lymphangiography for detection of minimal nodal disease in patients with prostate cancer: does postcontrast imaging alone suffice for accurate characterization [abstract]? Proceedings of the Radiological Society of North America; Chicago, IL; December 1–6, 2002. Radiology; 225(P):350.
78. Bellin MF, Roy C, Kinkel K, et al. Lymph node metastases: safety and effec-
tiveness of MR imaging with ultrasmall superparamagnetic iron oxide particles—initial clinical experience. Radiology. 1998;207:799–808.
79. Sigal R, Vogl T, Casselman J, et al. Lymph node metastases from head and neck squamous cell carcinoma: MR imaging with ultrasmall superparamagnetic iron oxide particles (Sinerem MR)—results of a phase-III multicenter clinical trial. Eur Radiol. 2002;12:1104–1113.
80. Josephson L, Mahmood U, Wunderbaldinger P, et al. Pan and sentinel lymph node visualization using a near-infrared fluorescent probe. Mol Imaging. 2003; 2:18–23.
81. Oehler MK, Fischer DC, Orlowska-Volk M, et al. Tissue and plasma expression of the angiogenic peptide adrenomedullin in breast cancer. Br J Cancer. 2003;89:1927–1933.
82. Lugtenburg PJ, Krenning EP, Valkema R, et al. Somatostatin receptor scintigraphy useful in stage I-II Hodgkin’s disease: more extended disease identified. Br J Haematol. 2001;112:936–944.

Để lại bình luận

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: