Hình ảnh đặc trưng của chấn thương giật (3): Vai, khuỷu

—————

Imaging Features of Avulsion Injuries

May 1999 RadioGraphics, 19, 655-672.

  1. Max A. Stevens, MD,
  2. Georges Y. El-Khoury, MD,
  3. Mary H. Kathol, MD,
  4. Eric A. Brandser, MD and
  5. Shirley Chow, MD

—————————

(Tiếp theo và hết)

Chấn thương vai

Gãy giật chỉ riêng củ lớn (mấu động lớn) của xương cánh tay là hiếm [43]. Củ lớn là vị trí gắn của các gân trên gai, gân dưới gai và gân cơ tròn bé. Các bệnh nhân có tiền sử ngã với bàn tay xoè, khuỷu tay duỗi và thường trật chỏm xương cánh tay ra trước [44]. Cánh tay bị giảm lực giạng giống như rách bao gân quay. Rất khó phân biệt giữa gãy giật đứt củ lớn và rách bao gân quay khi khám lâm sàng. Tuy nhiên việc phân biệt là quan trọng bởi vì cách điều trị khác nhau. Trên phim X quang, gãy có thể không rõ và chỉ thấy trên các phim chụp về sau (Hình 34a). Chụp cộng hưởng từ thường được yêu cầu trong các trường hợp nghi ngờ rách bao gân quay, và trong những trường hợp đó thương tình cờ  thấy phù tủy xương bao quanh củ lớn và đó chính là bờ của gãy giật đứt ẩn bên dưới (Hình 34b) [6]. Trong một số trường hợp, siêu âm có thể hữu ích để nhận ra một chỗ khấc vỏ và nên điều tra thêm bằng các phương pháp chẩn đoán hình ảnh khác. Trong rách bao gân quay, kết quả của phẫu thuật cho thấy hơn hẳn điều trị bảo tồn. Trái lại, gãy giật không di lệch củ lớn được điều trị tốt nhất bằng bảo tồn với sự bất động và sau đó tăng dần cường độ hoạt động [43].

Hình 34. Gãy giật đứt củ lớn ở một bệnh nhân ngã ngựa với cánh tay duỗi thẳng. (a) Phim X quang thẳng thấy gãy củ lớn không di lệch (mũi tên).

Hình 34. Gãy giật đứt củ lớn ở một bệnh nhân ngã ngựa với cánh tay duỗi thẳng. (b) ảnh T1W đứng ngang chếch cho thấy gãy củ lớn rõ hơn (mũi tên). Bao gân quay nguyên vẹn.

Chấn thương giật đứt riêng biệt củ bé ở chỗ bám của cơ dưới vai là hiếm. Nó được cho là thường xảy ra khi cánh tay giạng 600-900 và cơ dưới vai co mạnh kháng lại sự xoay ngoài. Các bệnh nhân điển hình liên quan đến các môn thể thao rất gắng sức (như là đấu vật). Bệnh nhân mất vận động cánh tay, đau kháng lại xoay trong, và hội chứng cánh tay bất lực (dead-arm syndrome) [45]. Củ bé bị giật đứt có thể co rút lại và nằm xuống dưới và vào trong so với ổ chảo [46,47]. Giật đứt có thể phối hợp với trật ổ chảo cánh tay sau và trật gan nhị đầu [48].

Các phim xq trước sau với cánh tay bệnh nhân xoay trong thường cho thấy một mảnh xương lớn, nhưng mảnh xương  nhỏ, di lệch ít chỉ có thể nhìn thấy trên phim hướng nách (Hình 35). Đôi khi những bất thường này bị diễn giải nhầm thành viêm gân vôi hóa gân nhị đầu hoặc gân dưới vai; tuy nhiên, những trường hợp này không phổ biến, hình ảnh X quang của chúng là mờ nhẹ và không có các bè xương [45,46]. Mặc dù chụp cộng hưởng từ là không cần thiết, nhưng nó cho phép đánh giá toàn bộ bao gây quay và thấy rõ hơn mảnh xương gãy di lệch ít.

 

Hình 35. Chấn thương giật đứt củ bé do động kinh. Phim X quang trước sau cho thấy gãy giật đứt củ bé (mũi tên).

Chấn thương khuỷu

Ở khuỷu tay, phần lớn các chấn thương giật là do các gắng sức nhóm cơ trong. Ở trẻ em, các dây chằng tương đối lỏng khiến nhóm cơ gấp quay sấp (nhóm cơ bám vào lồi cầu trên trong) trở thành nhóm ổn định chính của khuỷu chống lại trạng thái vẹo ra. Ở người trưởng thành, dây chằng bên trụ (bám vào mỏm quạ và mỏm khuỷu) và bao khớp là cấu trúc giữ ổn định chính. Bởi vì mỏm trên lồi cầu trong là chỗ nối yếu nhất, một lực mạnh mà gây bong dây chằng ở người trưởng thành thì sẽ giật đứt mỏm xương ở trẻ em [49,50]. Đây là điều cơ bản nhưng khác biệt nhiều trong các hình thái X quang.

Chấn thương giật hay gặp nhất ở khuỷu liên quan đến mỏm trên lồi cầu trong. Chấn thương này gặp ở các thiếu niên và có thể là cấp tính hoặc mạn tính. Hội chứng “Little League elbow” (xảy ra ở vận động viên bóng chày trẻ tuổi, Little league-hội bóng chày thiếu nhi) liên đới đến sự co tái diễn đều đặn của nhóm cơ gấp quay sấp (bàn tay) trong giai đoạn tăng tốc để ném. Nếu giật mạnh đột ngột gây đứt điểm bám, phim X quang cho thấy sưng mô mềm và sự tách rời của mỏm trên lồi cầu trong. Giật đứt mỏm trên lồi cầu trong được điều trị bằng bó chặt và bất động. Nếu chấn thương mạn tính, mỏm trên lồi cầu trong có thể  có những mảnh vỡ nho nhỏ, xù xì (Hình 36). Ngừng các hoạt động kích thích là phường pháp điều trị hiệu quả [49,50].

Nguyên nhân hay gặp nhất của giật đứt mỏm trên lồi cầu trong là ngã với bàn tay xoè khi khuỷu tay duỗi hết mức [6]. Với sức căng vẹo ra, khe khớp trong bị mở rộng ngay lập tức và đôi khi mảnh gãy bị kẹt trong khớp (Hình 37). Giật đứt mỏm trên lồi cầu trong cũng hay thấy cùng với trật sau ngoài của khuỷu [50]. Trong cả hai trường hợp, mảnh kẹt trong khớp có thể giả trung tâm cốt hóa ròng rọc, và nếu không nhận ra sẽ dẫn tới thoái hóa khớp gây tàn phế [51]. Do đó, mảnh kẹt phải được lấy đi.

Hình 36. Little League elbow. Phim chụp thẳng và nghiêng khuỷu tay của cầu thủ ném bóng (picher) cho thấy các mảnh xương đậm độ nhạt ở lồi cầu (mũi tên) xương cánh tay do chấn thương lặp đi lặp lại. (July 2004 RadioGraphics, 24, 1009-1027. )

Hình 37. Giật đứt mỏm trên lồi cầu trong ở một trẻ trai 8 tuổi bị ngã với cánh tay duỗi. Phim xq thẳng cho thấy mỏm trên lồi cầu trong bị giật đứt, di lệch tới xương trụ (mũi tên), nó có thể bị nhầm với trung tâm cốt hóa ròng rọc. Sau đó mảnh xương đã được gắn lại vào vị trí gốc của nó ở mỏm trên lồi cầu trong.

Giật đứt đầu dài gân nhị đầu thường thấy ở các bệnh nhân cao tuổi. Các bệnh nhân cảm thấy tiếng răng rắc kèm theo đau ở mặt trước khuỷu, và với giật đứt hoàn toàn thì thấy một khối phồng ở phía trước trên cánh tay. Đôi khi chỉ có giật đứt bán phần [3]. Chấn thương này thường được điều trị bảo tồn, nhưng ở những người chơi thể thao nó có thể điều trị bằng đính gân (tenodesis).

Kết luận

Các chấn thương giật là phổ biến ở các người trẻ tuổi chơi thể thao. Hơn nữa, các chấn thương giật phổ biến ở trẻ em nhưng cũng thấy với mức độ ít hơn ở người trưởng thành. Chụp phim X quang chấn thương cấp  phát hiện các mảnh xương bị nhổ ra. Những chấn thương bán cấp có hình ảnh X quang xâm lấn (tức là những vùng xơ cứng và tiêu xương). Những chấn thương cũ hoặc không hoạt động có thể tạo thành những khối xương lồi và có hình thái khá giống nhiễm khuẩn hoặc u. Mặc dù ít khi cần thiết, CT có thể giúp ích chẩn đoán nếu chụp X quang không mang lại chẩn đoán hoặc nếu chấn thương không phải giai đoạn cấp tính. Chụp cộng hưởng từ thích hợp nhất để đánh giá cơ, gân và dây chằng. Nhận ra các hình ảnh X quang đặc trưng và quên thuộc với giải phẫu gân cơ sẽ rất có ích cho chẩn đoán chính xác.

Tham khảo

  1. Stanish WD. Overuse injuries in athletes: a perspective. Med Sci Sports Exerc 1984; 16:1-7.
  2. Kathol MH, Moore TE, El-Khoury GY, Yuh WTC, Montgomery WJ. Magnetic resonance imaging of athletic soft tissue injuries. Iowa Orthop J 1989; 9:44-50.
  3. Zarins B, Cuillo JV. Acute muscle and tendon injuries in athletes. Clin Sports Med 1983; 2:167-182.
  4. Brandser EA, El-Khoury GY, Kathol MH. Adolescent hamstring avulsions that simulate tumors. Emerg Radiol 1995; 2:273-278.
  5. Combs JA. Hip and pelvis avulsion fractures in adolescents. Physician Sports Med 1994; 22:41-49.
  6. El-Khoury GY, Daniel WW, Kathol MH. Acute and chronic avulsive injuries. Radiol Clin North Am 1997; 35:747-766.
  7. Micheli LJ, Fehlandt AF, Jr. Overuse injuries to tendons and apophyses in children and adolescents. Clin Sports Med 1992; 11:713-726.
  8. Tehranzadeh J. The spectrum of avulsion and avulsion-like injuries of the musculoskeletal system. RadioGraphics 1987; 7:945-974.
  9. McMaster PE. Tendon and muscle ruptures. J Bone Joint Surg [Am] 1993; 15:702-722.
  10. Wootton JR, Cross MJ, Holt KWG. Avulsion of the ischial apophysis. J Bone Joint Surg [Br] 1990; 72:625-627.
  11. Metzmaker JN, Pappas AM. Avulsion fractures of the pelvis. Am J Sports Med 1985; 13:349-358.
  12. Brandser EA, El-Khoury GY, Kathol MH, Callaghan JJ, Tearse DS. Hamstring injuries: radiographic, conventional tomographic, CT, and MR imaging characteristics. Radiology 1995; 197:257-262.
  13. Miller A, Stedman GH, Beisaw NE, Gross PT. Sciatica caused by an avulsion fracture of the ischial tuberosity. J Bone Joint Surg [Am] 1987; 69:143-145.
  14. Schneider R, Kaye JJ, Ghelman B. Adductor avulsive injuries near the symphysis pubis. Radiology 1976; 120:567-569.
  15. Gamble JG, Kao J. Avulsion fracture of the lesser trochanter in a preadolescent athlete. J Pediatr Orthop B 1993; 2:188-190.
  16. Rockwood CA, Green DP, Bucholz RW. In: Rockwood CA, Green DP, Bucholz RW, eds Fractures in adults. 3rd ed. Philadelphia, Pa: Lippincott, 1991; 1560-1562.
  17. Dietz GW, Wilcox DM, Montgomery JB. Segond tibial condyle fracture: lateral capsular ligament avulsion. Radiology 1986; 159:467-469.
  18. Capps GW, Hayes CW. Easily missed injuries around the knee. RadioGraphics 1994; 14:1191-1210.
  19. Goldman AB, Pavlov H, Rubenstein D. The Segond fracture of the proximal tibia: a small avulsion that reflects major ligamentous damage. AJR 1988; 151:1163-1167.
  20. Weber WN, Neuman CH, Barakos JA, Petersen SA, Steinbach LS, Genant HK. Lateral tibial rim (Segond) fractures: MR imaging characteristics. Radiology 1991; 180:731-734.
  21. Shindell R, Walsh WM, Connolly JF. Avulsion fracture of the fibula: the ′arcuate sign’ of posterolateral knee instability. Nebr Med J 1985; 69:369-371.
  22. Yu JS, Salonen DC, Hodler J, Haghighi P, Trudell D, Resnick D. Posterolateral aspect of the knee: improved MR imaging with a coronal oblique technique. Radiology 1996; 198:199-204.
  23. Fyfe IS, Jackson JP. Tibial intercondylar fractures in children: a review of the classification and the treatment of malunion. Injury 1981; 13:165-169.
  24. Kendall NS, Hsu SC, Chan KM. Fracture of the tibial spine in adults and children: a review of 31 cases. J Bone Joint Surg [Br] 1992; 6:848-852.
  25. Zaricznyj B. Avulsion fracture of the tibial eminence: treatment by open reduction and pinning. J Bone Joint Surg [Am] 1977; 59:1111-1114.
  26. Christie MJ, Dvonch VM. Tibial tuberosity avulsion fracture in adolescents. J Pediatr Orthop 1981; 1:391-394.
  27. Hernard DC, Bobo RT. Avulsion fractures of the tibial tubercle in adolescents. Clin Orthop 1983; 177:182-187.
  28. Ogden JA, Tross RB, Murphy MJ. Fractures of the tibial tuberosity in adolescents. J Bone Joint Surg [Am] 1980; 62:205-215.
  29. Kujala UM, Kvist M, Heinonen O. Osgood-Schlatter’s disease in adolescent athletes: retrospective study of incidence and duration. Am J Sports Med 1985; 13:236-241.
  30. Rosenberg ZS, Kawelblum M, Cheung YY, Beltran J, Lehman WB, Grant AD. Osgood-Schlatter lesion: fracture or tendinitis? Scintigraphic, CT, and MR imaging features. Radiology 1992; 185:853-858.
  31. Scotti DM, Sadhu VK, Heimberg F, O’Hara AE. Osgood-Schlatter’s disease, an emphasis on soft-tissue changes in roentgen diagnosis. Skeletal Radiol 1979; 4:21-25.
  32. Lian O, Engebretsen L, Ovrebo RV, Bahr R. Characteristics of the leg extensors in male volleyball players with jumper’s knee. Am J Sports Med 1996; 24:380-385.
  33. Molnar TJ, Fox JM. Overuse injuries of the knee in basketball. Clin Sports Med 1993; 12:349-362.
  34. Popp JE, Yu JS, Kaeding CC. Recalcitrant patellar tendinitis. Am J Sports Med 1997; 25:218-221.
  35. Bates GD, Hresko MT, Jaramillo D. Patellar sleeve fracture: demonstration with MR imaging. Radiology 1994; 193:825-827.
  36. Kathol MH, El-Khoury GY, Moore TE, Marsh JL. Calcaneal insufficiency avulsion fractures in patients with diabetes mellitus. Radiology 1991; 180:725-729.
  37. Carvalho A, Illum F, Jorgensen J. Calcifications simulating peroneus longus tendinitis. Int Skeletal Soc 1984; 12:37-39.
  38. Quill GE. Fractures of the proximal fifth metatarsal. Orthop Clin North Am 1995; 26:353-361.
  39. Wiener BD, Linder JF, Giattini JFG. Treatment of fractures of the fifth metatarsal: a prospective study. Foot Ankle Int 1997; 18:267-269.
  40. Smith AL, Khan F, Scott A. Base of the fifth metatarsal fractures, an unusual presentation. J R Army Med Corps 1997; 143:51-52.
  41. Lawrence SJ, Botte MJ. Jones’ fractures and related fractures of the proximal fifth metatarsal. Foot Ankle Int 1993; 14:358-365.
  42. Owen RJT, Hickey FG, Finlay DB. A study of metatarsal fractures in children. Injury 1995; 26:537-538.
  43. Patten RM, Mack LA, Wang KY, Lingel J. Nondisplaced fractures of the greater tuberosity of the humerus: sonographic detection. Radiology 1992; 182:201-204.
  44. Rogers LF. The shoulder and humeral shaft. In: Hurley R, Terry D, eds. Radiology of skeletal trauma. 2nd ed. New York, NY: Churchill Livingstone, 1992; 653-748.
  45. Ross GJ, Love MB. Isolated avulsion fracture of the lesser tuberosity of the humerus: report of two cases. Radiology 1989; 172:833-834.
  46. Earwaker J. Isolated avulsion fracture of the lesser tuberosity of the humerus. Skeletal Radiol 1990; 19:121-125.
  47. Klasson SC, Vander JL, Park JP. Late effect of isolated avulsion fractures of the lesser tubercle of the humerus in children. J Bone Joint Surg [Am] 1993; 75:1691-1694.
  48. Collier SG, Wynn-Jones DH. Displacement of the biceps with subscapularis avulsion. J Bone Joint Surg [Br] 1990; 72:145.
  49. Gore MG, Rogers LF, Bowerman J, Suker J, Compere CL. Osseous manifestations of elbow stress associated with sports activities. AJR 1980; 134:971-977.
  50. Chessare JW, Rogers LF, White H, Tachdjian MO. Injuries of the medial epicondylar ossification center of the humerus. AJR 1977; 129:49-55.
  51. Fowles JV, Slimane N, Kassab MT. Elbow dislocation with avulsion of the medial humeral epicondyle. J Bone Joint Surg [Br] 1990; 72:102-105.
Để lại bình luận

8 phản hồi

  1. lequangkhang

     /  16.09.2013

    Chào Anh Tuấn. Em có thể email xin anh file sách atlas về giải phẫu được không ah.
    Thanx anh!

    Trả lời
  2. Nguyễn văn trường

     /  27.02.2015

    E chào bs Tuấn.e có người nhà bị u tuyến tùng đã điều trị mổ dẫn lưu não thất bể đáy ở bv Việt Đức và Gama knife tại trung tâm ung bướu Bv Bạch Mai.sau 3tháng đi chụp kt lại.E. bs điều trị co nói là tiến triển tốt nhưng e vẫn rất lo.e muốn nhờ bs xem giúp e phim với ạ.nếu đc e sẽ chụp ảnh và gửi mail cho bs hoặc e gửi phim bạn e làm ktv ở khoa CDHA Bạch Mai ạ.e cám ơn bác sĩ

    Trả lời
  3. Võ Phúc Sơn

     /  28.10.2015

    Em chào bác sĩ! Em nhờ bác sĩ tư vấn giúp em đc không ạ!
    Số là em bị té xe trật khớp vai phải kèm theo gãy mấu động lớn không di lệch, bệnh viện nắn vai và cho em đeo áo giáp bất động rồi cho về.Đến nay đã đc 22 ngày. Hôm qua em có lên chụp phim lại thì thấy trong phiếu kết luận là “gãy cũ mấu động lớn, cal xương tốt”, e có hỏi lại thì họ giải thích là xương đang phục hồi tốt, cần phải tiếp tục đeo áo giáp bất động cho đủ 1 tháng rồi đi chụp lại. Tay em bây giờ ko còn nhức nữa, có thể thả lỏng tự do cử động nhẹ cánh tay được, vẫn bị tê ở vị trí mấu động lớn, ko nhấc cánh tay lên ngang mặt đc mà muốn nhấc phải dùng tay kia đỡ. Em muốn hỏi bác sĩ là tình trạng của em như thế có bình thường theo phát triển của bệnh lý không ạ? Rồi em phải tiếp tục trị liệu như thế nào, trong bao lâu ?
    Một vấn đề nhỏ nữa là em nằm trên xe giường nằm đi xa có ảnh hưởng gì đến vai của em không?
    Mong nhận được sự tư vấn của bác sĩ. Cảm ơn bác sĩ ! Chúc bác sĩ luôn mạnh khỏe!

    Trả lời
    • Hôm nay anh mới biết em hỏi nên anh chậm trả lời. Thắc mắc của em cần phải hỏi bác sỹ chấn thương chỉnh hình và phục hồi chức năng mới có trả lời thấu đáo. Anh là bác sỹ chẩn đoán hình ảnh nên chỉ trả lời một số điểm sau. Để gãy xương đầu trên xương cánh tay hàn gắn cần có thời gian bất động trung bình 6-8 tuần. Người trẻ thì xương gãy chóng liền (hơn người già). Nếu chỗ gãy ít di lệch và được cấp máu đủ (như trường hợp của em) thì càng dễ liền. Trường hợp của em sau gãy 3 tuần mà có hình “cal xương tốt” là tiến triển liền xương tốt rồi. Người ta khuyên không nên tháo áo giáp bất động sớm quá. Nên tập phục hồi sau gãy 2 tuần (nên tư vấn bác sỹ phục hồi chức năng). Anh nghĩ em đi xa bằng xe giường nằm không ảnh hưởng đến quá trình hồi phục đâu. Chúc em chóng bình phục.

      Trả lời
      • Sơn

         /  02.11.2015

        Cảm ơn bác sĩ đã dành thời gian trả lời. Đọc được những dòng phản hồi của bác sĩ là em yên tâm hơn rồi. Em năm nay 31 tuổi nên chắc xương cũng lâu lành hơn thanh niên bác sĩ nhỉ? Ở chỗ em thì các dịch vụ y tế chán lắm, nhất là cái vụ phục hồi chức năng thì càng chán nên em mới tìm tòi trên mạng để tự trị liệu mình cho đúng. Nếu có thể bác sĩ tư vấn thêm cho em một chút về quy trình phục hồi.
        Một lần nữa cảm ơn bác sĩ !

  4. Sơn

     /  29.10.2015

    không biết bài đăng hôm qua của em bác sĩ có đọc được không?

    Trả lời

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: