Hình ảnh đặc trưng của chấn thương giật (2): gối, cổ chân và bàn chân

Imaging Features of Avulsion Injuries

May 1999 RadioGraphics, 19, 655-672

  1. Max A. Stevens, MD,
  2. Georges Y. El-Khoury, MD,
  3. Mary H. Kathol, MD,
  4. Eric A. Brandser, MD and
  5. Shirley Chow, MD

—————

(Tiếp)

Chấn thương gối

Gối là một vị trí mà các chấn thương giật có thể xảy ra (Hình 11). Gãy Segond là giật đứt vỏ xương liên quan đến phần sụn chêm-xương chày của đoạn 1/3 giữa dây chằng bao ngoài [17] do xoay trong mạnh và nhấn vẹo vào trong của gối. Các bệnh nhân có đau ở đường khớp ngoài và không vững xoay trước ngoài (bán trật xoay) [17]. Mảnh xương bị giật đứt trong gãy Segond nằm ngay ở ngoại biên mâm chày ngoài xuất hiện như là mảnh xương hình elip song song với xương chày (Hình 12). Gãy Segond nên được phân biệt với giật đứt củ Gerdy ở chỗ bám của dải chậu chầy (của cơ căng mạc đùi), nó nằm ở phía trước và xa khớp gối hơn.

Hình 11. Sơ đồ các vị trí giật đứt hay gặp ở gối. (a) Hướng thẳng, (b) hướng nghiêng ACL = dây chằng chéo trước; LCL = dây chằng bên ngoài; PCL dây chằng chéo sau.

Hình 11. Sơ đồ các vị trí giật đứt hay gặp ở gối. (a) Hướng thẳng, (b) hướng nghiêng ACL = dây chằng chéo trước; LCL = dây chằng bên ngoài; PCL dây chằng chéo sau.

Hình 12. Gãy Segond ở một bệnh nhân đã bị chấn thương khớp gối xoay trong. (a) Chụp X quang gối thẳng cho thấy một mảnh xương sát vỏ ngoài mâm chày (mũi tên).

 Hình 12. Gãy Segond ở một bệnh nhân đã bị chấn thương khớp gối xoay trong.  (b) ảnh T1W đứng ngang cho thấy mảnh xương bị giật đứt gắn với mặt trong của dây chằng bao ngoài.

Gãy Segond có thể tinh vi nhưng thường thấy rõ trên các phim Xquang thẳng hoặc tunnel-view (chụp thẳng gối gấp 40-500). Một cung xương mỏng của mảnh gãy trên các phim X quang chỉ ra dấu hiệu bao ngoài [18]. Chụp MR thấy phù tủy xương ở viền ngoài mâm chày [19]. Quan trọng hơn, chụp MR thường được thực hiện bởi vì sự kết hợp chặt chẽ giữa loại gãy này với các chấn thương khác, bao gồm rách dây chằng chéo trước (75% đến 100% các trường hợp) và rách sụn chêm (66% đến 70% các trường hợp) [19,20]. Gãy Segond cũng có thể phối hợp với tổn thương giật ở đầu mác chỗ bám cơ nhị đầu đùi và dây chằng bên mác [20]. Do đó, điều quan trọng là phát hiện loại chấn thương này trên phim X quang bởi vì nó kết hợp với những loại chấn thương khác có ý nghĩa của gối.

Đứt phức hợp dây chằng cung (arcurate complex) gây mất vững sau bên [8,21,22] và xảy ra với lực hướng vào trước trong xương chày khi gối duỗi. Phức hợp cung giữ vững góc sau ngoài của gối. Các cấu trúc chính của nó là fabellofibular ligament (dây chằng mác-xương vừng của cơ sinh đôi ngoài)*, dây chằng cung, gân và cơ khoeo (Hình 13). Cũng quan trọng là dây chằng vành, dây chằng khoeo chéo Winslow, và dây chằng bên ngoài (mác) [21]. Các dấu hiệu lâm sàng bao gồm bán trật sau trong của xương chày. Đầu xương mác là chỗ bám của hầu hết các gân và dây chằng kể trên, và do đó thường bị chấn thương giật. Kích thước của mảnh xương bị giật đứt rất biến đổi (Hình 14,15). Các chấn thương phối hợp bao gồm rách dây chằng chéo trước và tổn thương dây thần kinh mác [8].

Hình 13. Sơ đồ các dây chằng chính ở sau ngoài gối. Vị trí giật đứt xương thường ở đầu xương mác, nó là mỏm neo của nhiều gân và dầy chằng này.

Hình 14. Giật đứt đầu xương mác ở một người phụ nữ bị trẹo gối khi chạy. Phim X quang thẳng cho thấy đầu xương mác bị giật đứt và di lệch lên trên (mũi tên). Dấu hiệu này cho biết chấn thương của phức hợp cung và mất vững sau bên.

Hình 15. Giật đứt đầu xương mác ở một người phụ nữ bị trẹo gối khi chạy.  Hình T1W cắt đứng ngang cho thấy giật đứt đầu xương mác (mũi tên).

Giật đứt lồi gian lồi cầu xương chày có thể xảy ra ở người lớn nhưng hay gặp ở trẻ em hơn (Hình 16). Các bệnh nhân biểu hiện đau âm ỉ, gối bị gấp lại với các dấu hiệu tràn máu khớp và mất vững trước [18]. Ở trẻ em, giật đứt lồi chày là do gấp gối cưỡng bức khi xương chày xoay trong (Hình 17) và thường không phối hợp với các tổn thương khác của gối. Ở người lớn, chấn thương thường do tai nạn xe mô tô trong khi chân bị duỗi  mức lúc va chạm [23]. Người lớn cũng có tỷ lệ chấn thương phối hợp cao hơn, bao gồm rách dây chằng bên trong, đụng dập xương khu trú [24,25]. Chẩn đoán X quang có thể khó và thường cần các phim hướng chếch và tunnel-view . Hình ảnh CT và MRI có thể bộc lộ vị trí gãy rõ hơn (Hình 18, 19) [5].

Hình 16. Sơ đồ các loại giật đứt gai chày.

Hình 17. Giật đứt lồi chày ở một bệnh nhân trẻ tuổi có đau cấp và mất vững trước. Phim X quang thẳng của gối phải cho thấy giật đứt lồi chày ở chỗ bám của dây chằng chéo trước. Chấn thương này gây tác hại chức năng như các trường hợp đứt dâychằng chéo trước khác.

Hình 18. Giật đứt lồi chày ở một vận động viên điền kinh trẻ gây mất vững trước. Ảnh T2W cắt đứng ngang cho thấy phù lồi chày, trên ảnh T2W và PDW (không trình bày) cho thấy mảnh giật đứt không di lệch.

Hình 19. Giật đứt lồi chày ở một bệnh nhân chấn thương khớp gối 2 tuần trước. Ảnh T1W cắt ngang : giật đứt lồi chày (mũi tên to) với đụng dập mâm chày ngoài (mũi tên nhỏ). Sự kéo dài T1 (phù) của lồi chày tương đối có giới hạn, gợi ý một chấn thương bán cấp.

Các gãy giật xương chày của dây chằng chéo sau là hiếm và khó thấy trên xq. Chúng do di lệch mạnh khi gối gấp hoặc quá duỗi. Các dấu hiệu có thể khó thấy và gây nhầm lẫn, đặc biệt khi mảnh xương bị giật đứt không bị di lệch nhiều (Hình 20). CT hoặc MRI có thể hữu ích trong chẩn đoán (Hình 20,21).

 

Hình 20. Chấn thương giật đứt của dây chằng chéo sau do quá duỗi của gối.  Phim xq nghiêng cho thấy một mảnh xương bị nhổ ở vị trí bám của dây chằng chéo sau (mũi tên).

Hình 21. Chấn thương giật đứt của dây chằng chéo sau do quá duỗi của gối (cùng bệnh nhân Hình 20). CT cho thấy mảnh xương bị giật đứt di lệch ít (mũi tên).

Hình 22.  Chấn thương giật đứt của dây chằng chéo sau do quá duỗi của gối (cùng bệnh nhân Hình 20). Ảnh mật độ proton (PDW) cho thấy mảnh xương bị giật đứt di lệch (mũi tên).

Giật đứt lồi củ xương chày ít gặp và thường liên quan đến các hoạt động thể thao đòi hỏi phải nhảy. Chúng xảy ra do sự duỗi mạnh của gối hoặc gối gấp thụ động chống lại lực co của cơ tứ đầu [26,27]. Ba loại gãy đã được mô tả theo phân loại Watson-Jones dựa trên mức độ liên quan của [đáy] đầu trên xương chày bị gãy và mức độ di lệch của mảnh gãy (Hình 23) [26,28]. Trong chấn thương loại 1, lồi củ bị giật đứt mà không có chấn thương đầu xương chày (Hình 24). Trong chấn thương loại 2, đầu xương chày bị kéo lên trên và gãy không hoàn toàn. Gãy loại 3 cho thấy di lệch đáy của đầu trên xương chày với đường gãy kéo dài vào trong khớp (Hình 25). Gãy loại 1 và 2 có xu hướng xảy ra ở các thiếu niên trẻ (12-14 tuổi), trong khi gãy loại 3 xảy ra ở các thanh thiếu niên 15-17 tuổi. Mặc dù là một chấn thương cấp, giật đứt lồi củ chày thường thấy ở các thiếu niên có bệnh Osgood-Schlatter đang tiến triển [28].

Hình 23. Sơ đồ 3 loại chấn thương giật đứt lồi củ chày.

Hình 24. Gãy giật đứt lồi củ chày ở một người chơi bóng rổ bi đau cấp, đau dữ dội khi đứng sau một cú nhảy. Phim xq nghiêng cho thấy gãy giật đứt lồi củ chày loại 1 không có chấn thương đầu xương.

Hình 25. Gãy giật đứt lồi củ chày ở một vận động viên điền kinh trẻ. Bệnh nhân bị chấn thương gối trong khi nhảy sào. Phim xq nghiêng cho thấy gãy giật đứt lồi củ chày loại 3 với di lệch đay của đầu trên xương chày và kép dài vào khớp (các mũi tên).

Bệnh Osgood-Schlatter là một chấn thương giật mạn tính được cho là do vi chấn thương lặp lại và kéo lồi củ chày. Một số tác giả cho là nguyên nhân chấn thương đối với gân bánh chè ở chỗ bám vào lồi củ chày (Hình 26) [29,30]. Bệnh Osgood-Schlatter gặp điển hình ở các thanh thiếu niên ưa hoạt động, đặc biệt những người tham gia các môn thể thao đòi hỏi nhảy, ngồi xổm, đá, và có thể xảy ra ở hai bên trong 50% các bệnh nhân [30,31]. Trẻ trai có khuynh hướng hay bị hơn trẻ gái. Bệnh nhân biểu hiện sưng, tăng nhạy cảm và đau khu trú. Hầu hết được chẩn đoán trên lâm sàng. Khi được sử dụng, phim X quang cho thấy hình vỡ từng mảnh của lồi củ chày, mặc dù vậy dấu hiệu này có thể chỉ biểu hiện như một trung tâm cốt hóa bình thường. Do đó, các tiêu chuẩn chẩn đoán được thiết lập trên MRI và bao gồm (a) sưng mô mềm trước lồi củ chày, (b) mất góc nhọn phía dưới của lớp mỡ dưới bánh chè và mô mềm bao quanh, (c) dày và phù gân bánh chè dưới, và (d) viêm bao hoạt dịch dưới bánh chè [5,29,31]. Đôi khi, bệnh cùng với các dấu hiệu X quang tồn tại cho tới tuổi trưởng thành. Hiện tượng này được gọi là bệnh Osgood-Schlatter “tiêu không hết” (unresolved) (Hình 27).

Hình 26. Bệnh Osgood-Schlatter ở một người chơi bóng rổ trẻ tuổi bị đau gối mạn tính. Phim X quang gối nghiêng cho thấy mô xương nhô ra ở cực dưới xương bánh chè, “jumper’s knee” (đầu mũi tên”, và lồi củ chày mấp mô (mũi tên).

Hình 27. Bệnh Osgood-Schlatter mạn tính không hết ở vận động viên điền kinh nam 28 tuổi đau lồi củ chày. Bệnh đã được chẩn đoán khi bệnh nhân còn ở tuổi thiếu niên. ảnh T2W đứng dọc cho thấy vài mảnh xương sát lồi củ chày (mũi tên đặc) và phù ở xương chày (mũi tên rỗng). Các dấu hiệu này, cùng với tiên sử của bệnh nhân phù hợp với bệnh Osgood-Schlatter tiêu không hết.

Jumper’s knee (hay viêm gân bánh chè) là một hội chứng đặc trưng bằng đau ở chỗ bám gần hoặc xa của gân bánh chè [32,33]. Nó thường xảy ra ở các người chơi bóng rổ, bóng đá, bóng chuyền và do vi chấn thương lặp lại. Jumper’s knee xảy ra trong lứa tuổi thiếu niên và thường thấy ở trẻ trai. Các dấu hiệu MRI điển hình gồm gân dày lên với tăng cường độ tín hiệu ở cả ảnh T1W và T2W (Hình 28). Trong các trường hợp mạn tính, chồi xương có thể lồi ra ở mặt dưới của xương bánh chè. Một thực thể tương tự liên quan tới vi chấn thương là hội chứng Sinding-Larsen-Johansson, nó xảy ra ở cực dưới xương bánh chè tại chỗ bám của gân bánh chè. Hội chứng thường xảy ra ở trước lứa tuổi thiếu niên hoặc bắt đầu tuổi thiếu niên (10-12 tuổi). Giống bệnh Osgood-Schlatter, các mảnh xương vỡ có thể thấy ở cực dưới của xương bánh chè. Một số bệnh nhân viên gân bánh chè khó chữa thì can thiệp phẫu thuật có thể có lợi [34].

Hình 28. Jumper’s knee ở một người chơi bóng chuyền bị đau trước gối. Ảnh mật độ proton (PDW) cho thấy dày gân bánh chè kèm theo tăng tín hiệu bất thường ở chỗ bám vào lồi củ chày và cực dưới xương bánh chè, dấu hiệu này phù hợp với viêm gân bánh chè. Cường độ tín hiệu cao tồn tại trên các ảnh T2W.

Gãy bao sụn xương bánh chè (patellar sleeve fracture) là gãy giật đứt cấp tính xương, sụn bọc cực dưới xương bánh chè [35] (thường liên quan đến  hoạt động thể thao đòi hỏi duỗi gối, cơ tứ đầu co mạnh để chống lại sức cản). Chụp X quang cho thấy một hoặc nhiều mảnh xương vỡ sát ngay cực dưới của xương bánh chè (Hình 29). Tuy nhiên, tổn hại sụn có thể không được đánh giá hết bằng X quang và MRI có thể được yêu cầu để nhìn rõ hơn sụn và nhận ra sự liên luỵ của khớp. Điều trị các mảnh bị di lệch xa cần đến phẫu thuật gối mở để sắp và tổ chức lại bề mặt khớp tốt phù hợp với hệ thống cơ duỗi [35].

Hình 29. Patellar sleeve fracture liên quan đến chấn thương duỗi quá ở trẻ trai 11 tuổi. Phim xq nghiêng cho thấy một vùng quá sáng ở cực dưới xương bánh chè (mũi tên).

Chấn thương cổ chân và bàn chân

Gãy giật xương gót thiểu năng là gãy ngoài khớp ở 1/3 sau xương gót, hầu như chỉ thấy ở các bệnh nhân đái tháo đường (Hình 30) [36]. Chấn thương này hầu như liên quan đến thưa xương (osteopenia) và các thay đổi thần kinh thêm vào, và nó thường bắt đầu ở lồi củ xương gót kéo dài lên trên. Mảnh xương bị di lệch lên trên do gân Achilles kéo [36]. Gãy giật xương gót thiểu năng có thể phân biệt với gãy mệt (stress fracture) điển hình ở chỗ mật độ xương trong loại gãy mệt (stress fracture) thì bình thường.

Hình 30. Gãy giật xương gót thiểu năng ở một bệnh nhân 52 tuổi mắc bệnh đái tháo đường. Phim X quang cho thấy gãy giật xương gót suy (mũi tên), có lẽ do thưa xương và các thay đổi thần kinh bởi vì loại gãy này hầu như chỉ xảy ra ở các bệnh nhân đái tháo đường.

Chấn thương giật bao [khớp] sau của mắt cá liên quan đến đầu dưới xương chày là hiếm [37]. Cơ chế được cho là gấp mạnh bàn chân. Xq cho thấy dải vôi hóa cong nằm sát với mặt sau của khớp mắt cá (Hình 31). Chấn thương giật bao [khớp] trước xảy ra ở các người chơi bóng rổ và là một chấn thương mạn tính do vi chấn thương ở chỗ bám của vỏ bao khớp vào xương sên, nó tạo ra chồi xương (Hình 32).

Hình 31. Chấn thương giật bao sau của mắt cá ở một bệnh nhân nữ bị chấn thương từ 5 tuần trước. Phim X quang nghiêng cho thấy dải vôi hóa cong nằm sát bờ sau xương chày (mũi tên). Dấu hiệu này phù hợp với Chấn thương giật bao sau nhưng không phải thường xuyên nhìn thấy nó; về lâm sàng, chấn thương này không khác gì bong gân mắt cá và do đó không cần theo dõi bằng chẩn đoán hình ảnh. Bệnh nhân thường hồi phục hoàn toàn bằng điều trị bảo tồn.

 

Hình 32. Chấn thương giật bao trước ở một người chơi bóng rổ có đau mạn tính mặt trước bàn chân gần cổ chân. Phim X quang nghiêng cho thấy chồi xương ở mặt trước xương sên (mũi tên). Giống với giật bao sau, loại chấn thương này thường không được phát hiện do không có yêu cầu chụp xq.

Các chấn thương giật ở nền của xương bàn chân năm là phổ biến và do lực co mạnh của gân mác ngắn chống  bàn chân bị lật, như trong trường hợp thoát khỏi sự kìm nén hoặc bước đi thoăn thoắt. Một số tác giả gợi ý rằng dải ngoài của mạc gan chân được gắn chắc là cấu trúc chịu trách nhiệm chính [38]. Loại gãy này nên được phân biệt với (a) gãy Jones thực sự, là gãy ngang qua chỗ nối thân xương và hành xương, và (b) gãy mệt (stress fracture) của thân xương bàn chân năm do các lực lặp lại theo chu kỳ đối với bàn chân (Hình 33). Gãy Jones và gãy mệt thân xương (diaphyseal stress fracture) có thể cần điều trị tích cực bởi vì có tỷ lệ cao các các biến chứng do không liền hoặc gãy lại [38-42].

Hình 33. Sơ đồ các vùng gãy chủ yếu của xương đốt bàn chân năm.

—————————————-

(còn tiếp các phần  vai và khuỷu)

Chú thích: fabellofibular ligament (dây chằng xương vừng của cơ sinh đôi ngoài-xương mác)*

Hình vẽ những thành phần chính của góc sau ngoài gối: dây chằng bên ngoài (1), đầu ngoài cơ sinh đôi (2), xương vừng (fabella) ở đầu ngoài gân cơ sinh đôi (3), dây chằng xương vừng cơ sinh đôi-mác (4), dây chằng khoeo-mác (5), gân khoeo (6), gân cơ nhi đầu đùi (7), dải chậu chày (8), gân kết hợp (9), và dây chằng cung (10) . AJR January 2009 vol. 192 no. 1 73-79

Tham khảo

  1. Stanish WD. Overuse injuries in athletes: a perspective. Med Sci Sports Exerc 1984; 16:1-7.
  2. Kathol MH, Moore TE, El-Khoury GY, Yuh WTC, Montgomery WJ. Magnetic resonance imaging of athletic soft tissue injuries. Iowa Orthop J 1989; 9:44-50.
  3. Zarins B, Cuillo JV. Acute muscle and tendon injuries in athletes. Clin Sports Med 1983; 2:167-182.
  4. Brandser EA, El-Khoury GY, Kathol MH. Adolescent hamstring avulsions that simulate tumors. Emerg Radiol 1995; 2:273-278.
  5. Combs JA. Hip and pelvis avulsion fractures in adolescents. Physician Sports Med 1994; 22:41-49.
  6. El-Khoury GY, Daniel WW, Kathol MH. Acute and chronic avulsive injuries. Radiol Clin North Am 1997; 35:747-766.
  7. Micheli LJ, Fehlandt AF, Jr. Overuse injuries to tendons and apophyses in children and adolescents. Clin Sports Med 1992; 11:713-726.
  8. Tehranzadeh J. The spectrum of avulsion and avulsion-like injuries of the musculoskeletal system. RadioGraphics 1987; 7:945-974.
  9. McMaster PE. Tendon and muscle ruptures. J Bone Joint Surg [Am] 1993; 15:702-722.
  10. Wootton JR, Cross MJ, Holt KWG. Avulsion of the ischial apophysis. J Bone Joint Surg [Br] 1990; 72:625-627.
  11. Metzmaker JN, Pappas AM. Avulsion fractures of the pelvis. Am J Sports Med 1985; 13:349-358.
  12. Brandser EA, El-Khoury GY, Kathol MH, Callaghan JJ, Tearse DS. Hamstring injuries: radiographic, conventional tomographic, CT, and MR imaging characteristics. Radiology 1995; 197:257-262.
  13. Miller A, Stedman GH, Beisaw NE, Gross PT. Sciatica caused by an avulsion fracture of the ischial tuberosity. J Bone Joint Surg [Am] 1987; 69:143-145.
  14. Schneider R, Kaye JJ, Ghelman B. Adductor avulsive injuries near the symphysis pubis. Radiology 1976; 120:567-569.
  15. Gamble JG, Kao J. Avulsion fracture of the lesser trochanter in a preadolescent athlete. J Pediatr Orthop B 1993; 2:188-190.
  16. Rockwood CA, Green DP, Bucholz RW. In: Rockwood CA, Green DP, Bucholz RW, eds Fractures in adults. 3rd ed. Philadelphia, Pa: Lippincott, 1991; 1560-1562.
  17. Dietz GW, Wilcox DM, Montgomery JB. Segond tibial condyle fracture: lateral capsular ligament avulsion. Radiology 1986; 159:467-469.
  18. Capps GW, Hayes CW. Easily missed injuries around the knee. RadioGraphics 1994; 14:1191-1210.
  19. Goldman AB, Pavlov H, Rubenstein D. The Segond fracture of the proximal tibia: a small avulsion that reflects major ligamentous damage. AJR 1988; 151:1163-1167.
  20. Weber WN, Neuman CH, Barakos JA, Petersen SA, Steinbach LS, Genant HK. Lateral tibial rim (Segond) fractures: MR imaging characteristics. Radiology 1991; 180:731-734.
  21. Shindell R, Walsh WM, Connolly JF. Avulsion fracture of the fibula: the ′arcuate sign’ of posterolateral knee instability. Nebr Med J 1985; 69:369-371.
  22. Yu JS, Salonen DC, Hodler J, Haghighi P, Trudell D, Resnick D. Posterolateral aspect of the knee: improved MR imaging with a coronal oblique technique. Radiology 1996; 198:199-204.
  23. Fyfe IS, Jackson JP. Tibial intercondylar fractures in children: a review of the classification and the treatment of malunion. Injury 1981; 13:165-169.
  24. Kendall NS, Hsu SC, Chan KM. Fracture of the tibial spine in adults and children: a review of 31 cases. J Bone Joint Surg [Br] 1992; 6:848-852.
  25. Zaricznyj B. Avulsion fracture of the tibial eminence: treatment by open reduction and pinning. J Bone Joint Surg [Am] 1977; 59:1111-1114.
  26. Christie MJ, Dvonch VM. Tibial tuberosity avulsion fracture in adolescents. J Pediatr Orthop 1981; 1:391-394.
  27. Hernard DC, Bobo RT. Avulsion fractures of the tibial tubercle in adolescents. Clin Orthop 1983; 177:182-187.
  28. Ogden JA, Tross RB, Murphy MJ. Fractures of the tibial tuberosity in adolescents. J Bone Joint Surg [Am] 1980; 62:205-215.
  29. Kujala UM, Kvist M, Heinonen O. Osgood-Schlatter’s disease in adolescent athletes: retrospective study of incidence and duration. Am J Sports Med 1985; 13:236-241.
  30. Rosenberg ZS, Kawelblum M, Cheung YY, Beltran J, Lehman WB, Grant AD. Osgood-Schlatter lesion: fracture or tendinitis? Scintigraphic, CT, and MR imaging features. Radiology 1992; 185:853-858.
  31. Scotti DM, Sadhu VK, Heimberg F, O’Hara AE. Osgood-Schlatter’s disease, an emphasis on soft-tissue changes in roentgen diagnosis. Skeletal Radiol 1979; 4:21-25.
  32. Lian O, Engebretsen L, Ovrebo RV, Bahr R. Characteristics of the leg extensors in male volleyball players with jumper’s knee. Am J Sports Med 1996; 24:380-385.
  33. Molnar TJ, Fox JM. Overuse injuries of the knee in basketball. Clin Sports Med 1993; 12:349-362.
  34. Popp JE, Yu JS, Kaeding CC. Recalcitrant patellar tendinitis. Am J Sports Med 1997; 25:218-221.
  35. Bates GD, Hresko MT, Jaramillo D. Patellar sleeve fracture: demonstration with MR imaging. Radiology 1994; 193:825-827.
  36. Kathol MH, El-Khoury GY, Moore TE, Marsh JL. Calcaneal insufficiency avulsion fractures in patients with diabetes mellitus. Radiology 1991; 180:725-729.
  37. Carvalho A, Illum F, Jorgensen J. Calcifications simulating peroneus longus tendinitis. Int Skeletal Soc 1984; 12:37-39.
  38. Quill GE. Fractures of the proximal fifth metatarsal. Orthop Clin North Am 1995; 26:353-361.
  39. Wiener BD, Linder JF, Giattini JFG. Treatment of fractures of the fifth metatarsal: a prospective study. Foot Ankle Int 1997; 18:267-269.
  40. Smith AL, Khan F, Scott A. Base of the fifth metatarsal fractures, an unusual presentation. J R Army Med Corps 1997; 143:51-52.
  41. Lawrence SJ, Botte MJ. Jones’ fractures and related fractures of the proximal fifth metatarsal. Foot Ankle Int 1993; 14:358-365.
  42. Owen RJT, Hickey FG, Finlay DB. A study of metatarsal fractures in children. Injury 1995; 26:537-538.
  43. Patten RM, Mack LA, Wang KY, Lingel J. Nondisplaced fractures of the greater tuberosity of the humerus: sonographic detection. Radiology 1992; 182:201-204.
  44. Rogers LF. The shoulder and humeral shaft. In: Hurley R, Terry D, eds. Radiology of skeletal trauma. 2nd ed. New York, NY: Churchill Livingstone, 1992; 653-748.
  45. Ross GJ, Love MB. Isolated avulsion fracture of the lesser tuberosity of the humerus: report of two cases. Radiology 1989; 172:833-834.
  46. Earwaker J. Isolated avulsion fracture of the lesser tuberosity of the humerus. Skeletal Radiol 1990; 19:121-125.
  47. Klasson SC, Vander JL, Park JP. Late effect of isolated avulsion fractures of the lesser tubercle of the humerus in children. J Bone Joint Surg [Am] 1993; 75:1691-1694.
  48. Collier SG, Wynn-Jones DH. Displacement of the biceps with subscapularis avulsion. J Bone Joint Surg [Br] 1990; 72:145.
  49. Gore MG, Rogers LF, Bowerman J, Suker J, Compere CL. Osseous manifestations of elbow stress associated with sports activities. AJR 1980; 134:971-977.
  50. Chessare JW, Rogers LF, White H, Tachdjian MO. Injuries of the medial epicondylar ossification center of the humerus. AJR 1977; 129:49-55.
  51. Fowles JV, Slimane N, Kassab MT. Elbow dislocation with avulsion of the medial humeral epicondyle. J Bone Joint Surg [Br] 1990; 72:102-105.
Để lại bình luận

14 phản hồi

  1. Nguyễn Quang

     /  29.03.2014

    Cảm ơn Bác Tuấn nhiều ! Bổ ích cho mình .

    Trả lời
  2. võ khánh hòa

     /  13.09.2014

    Tôi chỉ mới ghé qua một vài trang của BSTUẤN thôi và cảm thấy rất bổ ích,cám ơn BS nhiều!!

    Trả lời
  3. WordPress của bsxqTuấn như một kho sách thu nhỏ vậy, thật bổ ích. Cám ơn bác sĩ nhiều lắm ạ.

    Trả lời
  4. phước

     /  15.01.2015

    em bị trẹo gối,sưng nhẹ phía trong đầu gối,được một tuần đã giảm,đi lại cà nhắc,không bị đâu nhức nếu để thẳng,đứng. nhưng dùng tay ấn vào thì đau,gập gối lại quá 90o thì đau,em đang ở quê chắc e bị segond quá.bác sỉ tư vấn dùm e,e phải làm gì,có thể tự lành được không,chụp tổng quát mất bao nhiêu tiền ạ?
    rất trong bác Tuấn

    Trả lời
  5. Leduyngoc87

     /  06.04.2015

    bài viết rất hữu ích, cảm ơn Bác Tuấn rất nhiều

    Trả lời
  6. đầu gối e bị lồi 1 cục tư bé.đi kham bs keu khong sao.tới bay gio e 20t thì e thây sưng to hơn nhưng e k thấy đau.e vẫn đi lại đc binh thuong..e đi chup phim thi bac si keu e bị gãy lồi cu truoc xương chay..vây cho e hỏi bênh này có năng k và điêu tri ra sao nếu mình k bó bộ

    Trả lời
    • Chào em,
      mấy hôm rồi bận quá, xin lỗi hôm nay tôi mới trả lời em được. Bệnh của em có lẽ là bệnh viêm lồi củ xương chày cũ đã khỏi. Nếu hiện nay em đi lại, vận động bình thường thì không phải điều trị gì. Còn chỗ lồi lên là can xương. Em có thể tham khảo bệnh ở địa chỉ này để biết thêm nhé http://www.viemkhop.vn/benh-osgood-schlatter/.

      Trả lời
  7. ksor thin

     /  19.08.2015

    Chào bác sĩ.em bị bệnh lồi củ xương chày cách đay 8 năm rồi ạ.vào năm 2011 em đã được mổ để bóc viêm.sau khi mổ em thấy đỡ đau và đi lại bình thường em cũng có chơi lại một số môn thể thao mà chủ yếu chạy bộ..cách đây 5 tháng em có dấu hiệu đau lại đi khám chụp xp kết quả bị viêm và có điểm vôi hóa.em xin hỏi bác sĩ bệnh này liệu có chữa khỏi được không ạ?em phải mổ lại không?hiện em vẫn đang dùng thuốc tình trạng vẫn không đỡ đau chút nào.cảm ơn bác sĩ!

    Trả lời
    • Chứng viêm phì đại lồi củ xương chày hầu hết thường tự khỏi em ạ. Trường hợp của em đã mổ rồi mà vẫn đau, thì em cần đem phim mới chụp đi hỏi bác sỹ cơ-xương khớp để tư vấn cụ thể em nhé.

      Trả lời

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: