Khái niệm hiện nay về chẩn đoán hình ảnh hạch bạch huyết: phần 2 – hình ảnh phân tử

Current Concepts in Lymph Node Imaging
Maha Torabi, MD; Suzanne L. Aquino, MD; and Mukesh G. Harisinghani, MD

J Nucl Med 2004; 45:1509–1518

—————————————————————-

PET (Positron emission tomography)

Với những cải tiến kỹ thuật trong chẩn đoán hình ảnh chức năng, PET có tầm quan trọng rất lớn trong đánh giá hình ảnh hạch bạch huyết- chủ yếu sử dụng 18F-FDG tương tự glucose nên nó được hấp thu mạnh vào các tế bào có sự tăng phân huỷ glucose. 18F-FDG được phosphoryl hoá thành 18F-FDG-6P trong các tế bào u là những tế bào tương đối thiếu hụt glucose-6-phosphatase, các ảnh PET được chụp trong khoảng thời gian này. Rất nhiều nghiên cứu đã chứng minh rằng phương pháp tạo ảnh PET bằng 18F-FDG đã cải thiện có ý nghĩa việc đánh giá giai đoạn của một số bệnh ác tính, đặc biệt là ung thư phổi (Bảng 3). Pieterman và cộng sự [24] đã chứng minh rằng độ nhạy và độ đặc hiệu của 18F-FDG PET hơn CT trong phát hiện các hạch bạch huyết ác tính và xếp giai đoạn ung thư phổi. Trong nghiên cứu của họ, độ nhạy và độ đặc hiệu của PET là 91% và 86% so với độ nhạy và độ đặc hiệu của CT là 75% và 66% trong phát hiện di căn trung thất. Tuy nhiên, độ phân giải ảnh của PET là tương đối thấp nên nó cản trở độ chính xác giải phẫu. Bổ xung kết hợp PET và CT bằng máy kép PET/CT hoặc căn chỉnh bằng vi tính [computer registration] đã phát triển để vượt qua cản trở này [41,42]. Với phương pháp tạo ảnh bằng kết hợp CT và PET thì độ chính xác trong đánh giá giai đoạn đã được cải thiện. Chồng ảnh CT có độ phân giải không gian cao đã cải thiện việc định vị những vùng tăng hấp thu trong các hạch bạch huyết (Hình 5). Lardinois và cộng sự [41] đã báo cáo độ chính xác xếp giai đoạn ung thư phổi bằng máy kép PET/CT tăng lên so với đọc kết quả chỉ bằng CT hoặc PET. Theo Aquino và cộng sự [42]. Căn chỉnh vi tính các tập số liệu của CT và PET làm cải thiện độ đặc hiệu khi đánh giá giai đoạn hạch bạch huyết trong ung thư phổi do hiển thị tốt hơn các hạch di căn và giúp phát hiện các vùng tập trung 18F-FDG do nguyên nhân sinh lý (thực quản và hồ máu) hoặc viêm (các mạch máu vữa xơ).

Hình 5. Bệnh nhân nữ 57 tuổi đau ngực sau cắt thuỳ phổi vì ung thư phổi 4 năm trước. (A) Ảnh CT cho thấy tổn thương hỗn hợp mô mềm và dịch ở khoang màng phổi trái. Các hạch trước mạch máu và vùng nách được đọc là bình thường. (B) Chụp kép PET/CT cắt ngang cho thấy tăng hấp thu trong khối mô mềm cũng như ở các hạch trước mạch máu và nách, dấu hiệu này chỉ ra bệnh tái phát có di căn hạch.

Bảng 3. Tóm tắt các thử nghiệm lâm sàng sử dụng PET đánh giá hạch bạch huyết

Tham khảo

Số bệnh nhân

Vùng

PET

Độ nhạy (%)

Độ đặc hiệu (%)

Độ chính xác (%)

Tác giả

Số

Năm

Kau và cs

(22)

1999

70

Đầu và cổ

87

94

*

Dwamena và cs

(23)

1999

514

Phổi

79

91

92

Pieterman và cs

(24)

2000

102

Phổi

91

86

87

Greco và cs

(39)

2001

167

94.4

86.3

89.8

Vesselle và cs

(40)

2002

118

Phổi

80.9

96

90.7

Antoch và cs

(28)

2003

27

Phổi

89

89

89

* Không tính toán

Vai trò phát hiện ung thư tái phát của 18F-FDG PET cũng đã được chứng minh. Chẩn đoán hình ảnh sau điều trị [ung thư] gặp thách thức lớn bởi vì biến dạng dạng phẫu do điều trị bằng phẫu thuật và xạ trị. Các vùng mô sẹo có thể giả hoặc che đậy tổn thương tái phát sớm. 18F-FDG PET có lợi trong theo dõi bệnh nhân sau điều trị [43-45]. Aquino và cộng sự [46] thấy rằng kết hợp ảnh của PET và CT đã cải thiện việc xác định vị trí tái phát ở lồng ngực những bệnh nhân ung thư phổi được phẫu thuật và xạ trị so với kết quả của PET không kết hợp ảnh. 18F-FDG PET cải thiện độ nhạy và độ đặc hiệu trong đánh giá và tái đánh giá giai đoạn lymphoma so với chụp lấp lánh gali (gallium scintigraphy) và CT (Hình 6). Theo Buchmann và cộng sự [47], PET tốt hơn CT đáng kể trong phát hiện u ở những bệnh nhân có lymphoma không điều trị, đặc biệt là vùng trên hoành. Trong nhóm nghiên cứu của họ, thông tin từ các nghiên cứu PET đã dân đến thay đổi điều trị ở 8% bệnh nhân. Filmont và cộng sự báo cáo rằng 18F-FDG PET đã làm thay đổi quản lý lâm sàng ở 35% bệnh nhân lymphoma không Hodgkin của họ. Họ cũng báo cáo rằng PET tốt hơn các phương chẩn đoán hình ảnh thông thường một cách đáng kể trong việc dự đoán sống sót mà không mang bệnh.

Hình 6. Hạch cạnh động mạch chủ ở một bệnh nhân lymphoma được nhìn thấy cả hai bên trên PET nhưng chỉ thấy mở một bên trên CT. (A) Ảnh CT tiêm thuốc cản quang cắt ngang cho thấy hạch to cạnh bờ phải động mạch chủ (mũi tên). (B) Ảnh PET cắt đứng ngang cho thấy các vùng ở hai bên động mạch chủ hấp thu mạnh gợi đến hạch ác tính cạnh động mạch chủ ở cả hai bên (mũi tên).

Các khối u đường tiết niệu là một thách thức đặc biệt đối với 18F-FDG PET. Thí dụ, Hain và Maisey [49] thấy PET có giá trị hạn chế với ung thư tiền liệt tuyến trong việc phân biệt giữa tăng sản phì đại lành tính và ung thư biểu mô tuyến (adenocarcinoma). 11C-Acetate và 11C-methionine đã chứng tỏ tiềm năng là những hoá chất tốt hơn trong chẩn đoán hình ảnh các khối u tiền liệt tuyến. Theo Oyama và cộng sự [50], 11C-acetate cải thiện việc phát hiện hạch bạch huyết khung chậu bị ung tiền liệt tuyến di căn so với 18F-FDG PET. 11C-Acetate phát hiện di căn hạch bạch huyết ở 5 bệnh nhân, 18F-FDG PET chỉ cho thấy bất thường hạch ở 2 trong 5 bệnh nhân. Theo Macapinlac và cộng sự [51], 11C-methionine tốt hơn 18F-FDG đối với chẩn đoán hình ảnh ung thư tiền liệt tuyến do tỉ số u/máu cao hơn và hấp thu nhanh sớm hơn. Cũng vậy, trạng thái bình ổn trong hấp thu của u (đường cao nguyên) vẫn hằng định dài hơn, cho phép ghi ảnh toàn thân đồng nhất hơn.

Rất nhiều nghiên cứu lâm sàng đã cho thấy rằng 18F-FDG PET có những hạn chế trong việc xác định chính xác hạch bạch huyết trong trung thất. 18F-FDG không phải chất đánh dấu thật sự chọn lọc để ghi ảnh u bởi vì có nhiều tế bào khác ngoài u cũng sử dụng nhiều glucose. Thí dụ, các đại thực bào trong các tổn thương viêm và nhiễm khuẩn có thể biểu hiện tăng hấp thu 18F-FDG [52,53]. Gupta và cộng sự [54] thấy trong nhóm bệnh nhân nghiên cứu của họ độ nhạy thấp trong phát hiện di căn hạch trung thất bằng PET do hấp thu bất thường của 18F-FDG trong các hạch bạch huyết liên quan đến bệnh u hạt hoặc bệnh bụi silic phổi (silicosis). Do đó các tác giả này khuyến cáo soi trung thất để so sánh bệnh học ở bất cứ bệnh nhân nào có hạch bạch huyết bất thường phát hiện bằng 18F-FDG PET.

Nhiều nghiên cứu đã chứng minh rằng các hạch bạch huyết liên quan đến ung thư biểu mô tế bào tiểu phế quản-phế nang (bronchioloalveolar cell carcinoma) và u carcinoid có thể làm tăng các kết quả âm tính – giả với 18F-FDG PET [55-58]. Các kết quả âm tính – giả cũng có thể tăng lên với những hạch bạch huyết đường kính < 1cm, những hạch  liên quan đến các khối biệt hoá rõ (Hình 7), những hạch nằm gần khối u nghuyên phát, hoặc những hạch chứa di căn vi thể [59,60]. Rasanen và cộng sự [61] thấy 18F-FDG PET bị hạn chế trong phát hiện những di căn hạch bạch huyết khu vực trong ung thư biểu mô thực quản. Mặc dù độ nhạy trong phát hiện khối u nguyên phát là 84%, độ nhạy trong phát hiện hạch bạch huyết khu vực là 37%, độ đặc hiệu 100%. Trong một số bệnh ác tính, như ung thư biểu mô vú và u hắc tố, phẫu thuật để sinh thiết hạch bạch huyết báo hiệu (sentinel lymph node) tốt hơn nhiều so với PET để phát hiện di căn vi thể sớm ở những hạch bạch huyết dẫn lưu. Barranger [62] đã báo cáo độ nhạt của  PET là 20% trong phát hiện bệnh của hạch bạch huyết báo hiệu. Van der Hoeven [63] đã báo cáo kết quả thậm chí còm kém hơn, trong nghiên cứu này PET âm tính giả ở tất cả 18 bệnh nhân có hạch dương tính khi sinh thiết bạch huyết báo hiệu. Tuy nhiên, cũng ở những [bệnh nhân có] khối u đó PET khá hữu ích trong phát hiện di căn hạch bạch huyết ở xa (Hình 8), di căn mô mềm và bộ xương , do đó nó vẫn là công cụ chẩn đoán hình ảnh hữu ích để đánh giá giai đoạn.

Hình 7. Bệnh nhân nam 62 tuổi bị ung thư tuỵ. (A) Ảnh CT bộc lộ hạch bạch huyết quanh cửa gan (mũi tên). (B) Hạch không tăng hấp thu 18F-FDG. Tế bào học dương tính với ung thư biểu mô tuyến di căn.

Hình 8. Bệnh nhân nữ 41 tuổi bị ung thư vú. (A) Ảnh PET/CT cho thấy tăng chuyển hoá bất thường ở hạch bạch huyết vùng cổ sau phải. (B) Ung thư đã bị bỏ qua khi đọc CT mà không có thông tin từ PET (mũi tên).

18F-FDG PET chỉ là bước khởi đầu của quá trình phát triển chẩn đoán hình ảnh phân tử. Các dược chất X quang khác đang được khám phá cho chẩn đoán hình ảnh u bướu, như 11C-acetate, 11C-methionine, và 18F-methyl choline cho ung thư tiền liệt tuyến [64]. Các kết quả nghiên cứu ban đầu cho thấy rằng 18F-fluorothymidine (dùng ghi ảnh các tế bào đang tăng sinh) là rất hữu ích để phát hiện các khối u phổi [65,66]. Các nghiên cứu cung đang tiên hành đối với các đầu dò hình ảnh phân tử PET để theo dõi liệu pháp điều trị gen [67,68].

Chụp cộng hưởng từ dùng hạt nano tăng tương phản (NANOPARTICLE-ENHANCED MRI)

Sử dụng các chất tương phản đặc hiệu với hạch có thể khắc phục một số hạn chế của phương pháp cắt lớp. Các phần tử siêu nhỏ oxit sắt siêu thuận từ-ultrasmall superparamagnetic iron oxide particles (USPIO) ([ferumoxtran-10]) là một loại chất đối quang từ tương đối mới được phát triển trong những năm 1980 để chụp MRI bạch huyết thuốc tiêm theo đường tĩnh mạch [69,70]. Những hạt nano này đã được đánh giá là làm cải thiện khả năng phát hiện di căn hạch bạch huyết qua nhiều thử nghiệm lâm sàng [27,71-75]. Đánh giá bằng hạt nano cần chụp MRI 2 lần cách nhau 24 giờ. Chụp MRI thứ nhất dùng để đánh giá sự tồn tại và vị trí các hạch bạch huyết. 24 giờ sau khi tiêm chất tương phản, chụp MRI thứ hai dùng để đánh giá tăng tương phản ở các hạch bạch huyết đã xác định.

Sau khi tiêm tĩnh mạch, ferumoxtran-10 thoát từ từ khỏi mạch máu vào khoảng kẽ và  sau đó được vận chuyển tới các hạch bạch huyết theo đường bạch mạch (Hình 9). Khi nằm trong hạch, những hạt nano gắn với đại thực bào, làm giảm cường độ tín hiệu trong các ảnh T2W và T2*W. Mức độ giảm cường độ tín hiệu phụ thuộc vào liều ferumoxtran-10 và chuỗi xung MRI. Liều tối ưu được khuyến cáo hiện tại là 2.6 mg Fe cho mỗi kg cơ thể [76], và chuỗi xung thích hợp nhất để đánh giá mức độ mất tín hiệu là chuỗi xung gradient-echo T2*-weighted. Chuỗi xung này nhạy hơn các chuỗi xung khác đối với những hiệu ứng nhạy từ của ferumoxtran-10. Nếu một phần hoặc toàn bộ hạch bị di căn thâm nhiễm thì vùng hoặc hạch đó không hấp thu ferumoxtran-10, do đó cường độ tín hiệu vẫn cao sau khi tiêm các hạt nano (không giảm cường tín hiệu). Phổ của các dạng ngấm thuốc ở hạch sau tiêm ferumoxtran-10 phụ thuộc vào mức độ di căn thâm nhiễm hạch từ tối đồng nhất đến hoàn toàn không hấp thu ferumoxtran-10 (Hình 10). Các kết quả âm tính – giả thường do những ổ di căn vi thể ở những hạch bạch huyết nhỏ dưới ngưỡng phát hiện của các máy MRI hiện nay, các kết quả dương tính – giả chủ yếu do tăng sản phản ứng, tích mỡ khu trú trong hạch, và liều ferumoxtran-10 không đủ. Cho dù có những hạn chế đó, độ chính xác đã được báo cáo của kỹ thuật mới này vượt qua những thông số thông thường đã báo cáo trước đây. Tóm tắt các loạt báo cáo về MRI sử dụng ferumoxtran-10 được trình bày trong Bảng 4.

Hình 9. Soi kính hiển vi điện tử và mô hình của ferumoxtran-10. (A và B) ảnh chụp qua kính hiển vi điện tử của tinh thể hạt nano siêu nhạy từ hình lục giác đo trung bình 3 nm (A, vạch đo = 10 nm; B, thanh = 1 nm). (C và D) Mô hình phân tử của các dextran liên kết bề mặt (surface-bound 10-kDa dextrans, kích thước hạt trung bình 28 nm) và tinh thể oxit sắt. (E) Cơ chế hoạt động. Các hạt nano được tiêm vào tĩnh mạch và tới khoảng kẽ, được mạch bạch huyết khắp nơi dẫn lưu về hạch bạch huyết. Rối loạn dòng chảy bạch huyết hoặc cấu trúc hạch bất thường do di căn dẫn tới các dạng tập trung bất thường có thể phát hiện bằng MRI [71].

Hình 10. Các kiểu (phổ) thay đổi cường độ tín hiệu hạch khi dùng các hạch nano từ. (A-C) Hạch bạch huyết bình thường ở vùng động mạch chậu trái trên ảnh MRI không tiêm thuốc đối quang (A) và 24 giờ sau tiêm thuốc đối quang ferumoxtran-10 (mũi tên) (B). Lưu ý giảm đồng nhất cường độ tín hiệu do tập trung ferumoxtran-10. (C) Hô học tương ứng (phóng đại 10 lần). (D-F) Hạch bạch huyết không to cạnh động mạch chậu bị mô u thay thế hoàn toàn (mũi tên). (D) MRI thường qui cho thấy hạch bạch huyết cường độ tín hiệu cao. (E) 24 giờ sau tiêm ferumoxtran-10. Lưu ý rằng cường độ tín hiệu của hạch vẫn cao. (F) Mô học tương ứng. (G-I) Di căn vi thể ở hạch sau phúc mạc. (G) Ảnh MR cho thấy hạch bạch huyết cường độ tín hiệu cao. (H) MRI tiêm ferumoxtran-10 chứng bộ lộ 2 ổ cường độ tín hiệu cao (mũi tên) bên trong hạch tương ứng với các ổ di căn nhỏ 2mm. (I) Mô học tương ứng khẳng định sự hiện diện của ung thư biểu mô tuyến bên trong hạch [71].

Bảng 4. Tóm tắt các thử nghiệm lâm sàng sử dụng USPIO

Tham khảo

Số bệnh nhân

Vùng

PET

Độ nhạy (%)

Độ đặc hiệu (%)

Độ chính xác (%)

Tác giả

Số

Năm

Anzai và cs

(72)

1994

11

Tai, mũi, họng

95

84

*

Bellin và cs

(78)

1998

30

Sau phục mạc khung chậu

100

80

*

Taupitz và cs

(73)

1999

50

Khung chậu, bụng

82

94

*

Taupitz và cs

(74)

1999

35

64

94

*

Sigal và cs

(79)

2002

81

Tai, mũi, họng

88

77

*

Anzai và cs

(27)

2003

147

Toàn thân

83

77

80

Harisinghani và cs

(71)

2003

80

Khung chậu

90.5

95.7

*

* Không tính toán

Kết luận

Vai trò quan trọng của bác sỹ X quang trong chẩn đoán hình ảnh ung bướu, thứ nhất là đánh giá giai đoạn trước điều trị chính xác để lập kế hoạch cho thuốc, phẫu thuật, và can thiệp xạ trị, thứ hai là kiểm tra đáp ứng điều trị và theo dõi sau điều trị bệnh. Đánh giá giai đoạn hạch là một phần không thể thiệu của quá trình này. Mặc dù vẫn còn nhiều bàn cãi về mức độ thích hợp của chẩn đoán hình ảnh trước điều trị trong đánh giá tình trạng hạch bạch huyết ở bệnh nhân bị bệnh ác tính, các yếu tố khác nên cân nhắc dựa vào khối u nguyên phát, bao gồm độ chính xác và độ nhạy của các phương pháp chẩn đóan hình ảnh được dùng để điều tra, chi phí-hiệu quả của từng phương pháp, và tình trạng sẵn có của phương tiện chẩn đoán. Kinh nghiệm của bác sỹ X quang cũng đóng vai trò chủ chốt trong thu nhận và diễn giải hình ảnh.

Với các tiến bộ công nghệ, có xu hướng nghiêng về các phương pháp chẩn đoán hình ảnh chức năng hạch bạch huyết hơn chỉ đơn giản dựa vào hình ảnh cắt lớp hạch. PET/CT và MRI sử dụng hạch nano cho cả thông tin giải phẫu và chức năng và hơn hẳn các phương pháp chỉ cung cấp thông tin giải phẫu hoặc chức năng.

 

Tham khảo

  1. American Joint Committee on Cancer, American College of Surgeons. AJCC Cancer Staging Manual. 5th ed. Fleming ID, Cooper JS, Henson DE, et al., eds. Philadelphia, PA: American Cancer Society; 1997.
  2. Cheng L, Zincke H, Blute ML, Bergstralh EJ, Scherer B, Bostwick DG. Risk of prostate carcinoma death in patients with lymph node metastasis. Cancer. 2001;91:66–73.
  3. Yarbro JW, Page DL, Fielding LP, Partridge EE, Murphy GP. American Joint Committee on Cancer Prognostic Factors Consensus Conference. Cancer. 1999;86:2436–2446.
  4. Davis GL. Sensitivity of frozen section examination of pelvic lymph nodes for metastatic prostate carcinoma. Cancer. 1995;76:661–668.
  5. Guermazi A, Brice P, Hennequin C, Sarfati E. Lymphography: an old technique retains its usefulness. Radiographics. 2003;23:1541–1558.
  6. Baatenburg de Jong RJ, Rongen RJ, De Jong PC, et al. Screening for lymph nodes in the neck with ultrasound. Clin Otolaryngol. 1988;13:5–9.
  7. Vassallo P, Wernecke K, Roos N, Peters PE. Differentiation of benign from malignant superficial lymphadenopathy: the role of high resolution US. Radiology. 1992;183:215–220.
  8. Vassallo P, Edel G, Roos N, et al. In-vitro high-resolution ultrasonography of benign and malignant lymph nodes: a sonographic-pathologic correlation. Invest Radiol. 1993;28:698–705.
  9. Marchal G, Oyen R, Verschakelen J, Gelin J, Baert AL, Stessens RC. Sonographic appearance of normal lymph nodes. J Ultrasound Med. 1985;4:417–419.
  10. Ying M, Ahuja A. Sonography of neck lymph nodes. Part I. Normal lymph nodes. Clin Radiol. 2003;58:351–358.
  11. Ahuja A, Ying M. Sonography of neck lymph nodes. Part II. Abnormal lymph nodes. Clin Radiol. 2003;58:359–366.
  12. Griffith JF, Chan AC, Ahuja AT, et al. Neck ultrasound in staging squamous oesophageal carcinoma: a high yield technique. Clin Radiol. 2000;55:696–701.
  13. Kouvaraki MA, Shapiro SE, Fornage BD, et al. Role of preoperative ultrasonography in the surgical management of patients with thyroid cancer. Surgery. 2003;134:946–954.
  14. Wunderbaldinger P, Harisinghani MG, Hahn PF, et al. Cystic lymph node metastases in papillary thyroid carcinoma. AJR. 2002;178:693–697.
  15. Saltzman JR. Section III: endoscopic and other staging techniques. Semin Thorac Cardiovasc Surg. 2003;15:180–186.
  16. Yoshimura G, Sakurai T, Oura S, et al. Evaluation of axillary lymph node status in breast cancer with MRI. Breast Cancer. 1999;6:249–258.
  17. Kinoshita T, Odagiri K, Andoh K, et al. Evaluation of small internal mammary lymph node metastases in breast cancer by MRI. Radiat Med. 1999;17:189–193.
  18. Vinnicombe SJ, Norman AR, Nicolson V, Husband JE. Normal pelvic lymph nodes: evaluation with CT after bipedal lymphangiography. Radiology. 1995;194:349–355.
  19. Ingram CE, Belli AM, Lewars MD, Reznek RH, Husband JE. Normal lymph node size in the mediastinum: a retrospective study in two patient groups. Clin Radiol. 1989;40:35–39.
  20. Van den Brekel MW, Stel HV, Castelijns JA, et al. Cervical lymph node metastasis: assessment of radiologic criteria. Radiology. 1990;177:379–384.
  21. Hawnaur JM, Reynolds K, Wilson G, Hillier V, Kitchener HC. Identification of inguinal lymph node metastases from vulval carcinoma by magnetic resonance imaging: an initial report. Clin Radiol. 2002;57:995–1000.
  22. Kau RJ, Alexiou C, Laubenbacher C, Werner M, Schwaiger M, Arnold W. Lymph node detection of head and neck squamous cell carcinomas by positron emission tomography with fluorodeoxyglucose F 18 in a routine clinical setting. Arch Otolaryngol Head Neck Surg. 1999;125:1322–1328.
  23. Dwamena BA, Sonnad SS, Angobaldo JO, Wahl RL. Metastases from non-small cell lung cancer: mediastinal staging in the 1990s: meta-analytic comparison of PET and CT. Radiology. 1999;213:530–536.
  24. Pieterman RM, van Putten JW, Meuzelaar JJ, et al. Preoperative staging of non-small-cell lung cancer with positron-emission tomography. N Engl J Med. 2000;343:254–261.
  25. Gagliardi G, Bayar S, Smith R, Salem RR. Preoperative staging of rectal cancer using magnetic resonance imaging with external phase-arrayed coils. Arch Surg. 2002;137:447–451.
  26. Bipat S, Glas AS, van der Velden J, Zwinderman AH, Bossuyt PM, Stoker J. Computed tomography and magnetic resonance imaging in staging of uterine cervical carcinoma: a systematic review. Gynecol Oncol. 2003;91:59–66.
  27. Anzai Y, Piccoli CW, Outwater EK, et al. Evaluation of neck and body metastases to nodes with ferumoxtran 10-enhanced MR imaging: phase III safety and efficacy study. Radiology. 2003;228:777–788.
  28. Antoch G, Stattaus J, Nemat AT, et al. Non-small cell lung cancer: dual-modality PET/CT in preoperative staging. Radiology. 2003;229:526–533.
  29. Sohn KM, Lee JM, Lee SY, et al. Comparing MR imaging and CT in the staging of gastric carcinoma. AJR. 2000;174:1551–1557.
  30. Curtin HD, Ishwaran H, Mancuso AA, et al. Comparison of CT and MR imaging in staging of neck metastases. Radiology. 1998;207:123–130.
  31. Leslie A, Fyfe E, Guest P, Goddard P, Kabala JE. Staging of squamous cell carcinoma of the oral cavity and oropharynx: a comparison of MRI and CT in T- and N-staging. J Comput Assist Tomogr. 1999;23:43–49.
  32. Prenzel KL, Monig SP, Sinning JM, et al. Lymph node size and metastatic infiltration in non-small cell lung cancer. Chest. 2003;123:463–467.
  33. Tiguert R, Gheiler EL, Tefilli MV, et al. Lymph node size does not correlate with the presence of prostate cancer metastasis. Urology. 1999;53:367–371.
  34. Jager GJ, Barentsz JO, Oosterhof GO, et al. Pelvic adenopathy in prostatic and urinary bladder carcinoma: MR imaging with a three-dimensional T1-weighted magnetization-prepared-rapid gradient-echo sequence. AJR. 1996;167:1503–1507.
  35. Szabo BK, Aspelin P, Kristoffersen Wiberg M, Tot T, Bone B. Invasive breast cancer: correlation of dynamic MR features with prognostic factors. Eur Radiol. 2003;13:2425–2435.
  36. Fischbein NJ, Noworolski SM, Henry RG, Kaplan MJ, Dillon WP, Nelson SJ. Assessment of metastatic cervical adenopathy using dynamic contrast-enhanced MR imaging. AJNR. 2003;24:301–311.
  37. Kim SH, Kim SC, Choi BI, Han MC. Uterine cervical carcinoma: evaluation of pelvic lymph node metastasis with MR imaging. Radiology. 1994;190:807–811.
  38. Laissy JP, Gay-Depassier P, Soyer P, et al. Enlarged mediastinal lymph nodes in bronchogenic carcinoma: assessment with dynamic contrast-enhanced MR imaging—work in progress. Radiology. 1994;191:263–267.
  39. Greco M, Crippa F, Agresti R, et al. Axillary lymph node staging in breast cancer by 2-fluoro-2-deoxy-D-glucose-positron emission tomography: clinical evaluation and alternative management. J Natl Cancer Inst. 2001;93:630–635.
  40. Vesselle H, Pugsley JM, Vallieres E, Wood DE. The impact of fluorodeoxyglucose F 18 positron-emission tomography on the surgical staging of non-small cell lung cancer. J Thorac Cardiovasc Surg. 2002;124:511–519.
  41. Lardinois D, Weder W, Hany TF, et al. Staging of non-small-cell lung cancer with integrated positron-emission tomography and computed tomography. N Engl J Med. 2003;348:2500–2507.
  42. Aquino SL, Asmuth JC, Alpert NM, Halpern EF, Fischman AJ. Improved radiologic staging of lung cancer with 2-[18F]-fluoro-2-deoxy-D-glucose-positron emission tomography and computed tomography registration. J Comput Assist Tomogr. 2003;27:479–484.
  43. Karapetis CS, Strickland AH, Yip D, Steer C, Harper PG. Use of fluorodeoxyglucose positron emission tomography scans in patients with advanced germ cell tumour following chemotherapy: single-centre experience with long-term follow up. Intern Med J. 2003;33:427–435.
  44. Guay C, Lepine M, Verreault J, Benard F. Prognostic value of PET using 18F-FDG in Hodgkin’s disease for posttreatment evaluation. J Nucl Med. 2003;44:1225–1231.
  45. Anderson GS, Brinkmann F, Soulen MC, Alavi A, Zhuang H. FDG positron emission tomography in the surveillance of hepatic tumors treated with radiofrequency ablation. Clin Nucl Med. 2003;28:192–197.
  46. Aquino SL, Asmuth JC, Moore RH, Weise SB, Fischman AJ. Improved image interpretation with registered thoracic CT and positron emission tomography data sets. AJR. 2002;178:939–944.
  47. Buchmann I, Reinhardt M, Elsner K, et al. 2-(Fluorine-18)fluoro-2-deoxy-D-glucose positron emission tomography in the detection and staging of malignant lymphoma: a bicenter trial. Cancer. 2001;91:889–899.
  48. Filmont JE, Vranjesevic D, Quon A, et al. Conventional imaging and 2-deoxy-2-[18F]fluoro-D-glucose positron emission tomography for predicting the clinical outcome of previously treated non-Hodgkin’s lymphoma patients. Mol Imaging Biol. 2003;5:232–239.
  49. Hain SF, Maisey MN. Positron emission tomography for urological tumours. BJU Int. 2003;92:159–164.
  50. Oyama N, Akino H, Kanamaru H, et al. 11C-Acetate PET imaging of prostate cancer. J Nucl Med. 2002;43:181–186.
  51. Macapinlac HA, Humm JL, Akhurst T, et al. Differential metabolism and pharmacokinetics of L-[1-11C]-methionine and 2-[18F]fluoro-2-deoxy-D-glucose (FDG) in androgen independent prostate cancer. Clin Positron Imaging. 1999;2:173–181.
  52. Kapucu LO, Meltzer CC, Townsend DW, Keenan RJ, Luketich JD. Fluorine-18-fluorodeoxyglucose uptake in pneumonia. J Nucl Med. 1998;39:1267–1269.
  53. Rennen HJ, Corstens FH, Oyen WJ, Boerman OC. New concepts in infection/inflammation imaging. Q J Nucl Med. 2001;45:167–173.
  54. Gupta NC, Tamim WJ, Graeber GG, Bishop HA, Hobbs GR. Mediastinal lymph node sampling following positron emission tomography with fluorodeoxyglucose imaging in lung cancer staging. Chest. 2001;120:521–527.
  55. Higashi K, Ueda Y, Seki H, et al. Fluorine-18-FDG PET imaging is negative in bronchioloalveolar lung carcinoma. J Nucl Med. 1998;39:1016–1020.
  56. Heyneman LE, Patz EF. PET imaging in patients with bronchioloalveolar cell carcinoma. Lung Cancer. 2002;38:261–266.
  57. Jadvar H, Segall GM. False-negative fluorine-18-FDG PET in metastatic carcinoid. J Nucl Med. 1997;38:1382–1383.
  58. Erasmus JJ, McAdams HP, Patz EF Jr, Coleman RE, Ahuja V, Goodman PC. Evaluation of primary pulmonary carcinoid tumors using FDG PET. AJR. 1998;170:1369–1373.
  59. Kostakoglu L, Agress H Jr, Goldsmith SJ. Clinical role of FDG PET in evaluation of cancer patients. Radiographics. 2003;23:315–340.
  60. Ruers TJ, Langenhoff BS, Neeleman N, et al. Value of positron emission tomography with [F-18]fluorodeoxyglucose in patients with colorectal liver metastases: a prospective study. J Clin Oncol. 2002;20:388–395.
  61. Rasanen JV, Sihvo EIT, Knuuti MJ, et al. Prospective analysis of accuracy of positron emission tomography, computed tomography, and endoscopic ultrasonography in staging of adenocarcinoma of the esophagus and the esophagogastric junction. Ann Surg Oncol. 2003;10:954–960.
  62. Barranger E, Grahek D, Antoine M, Montravers F, Talbot J-N, Uzan S. Evaluation of fluorodeoxyglucose positron emission tomography in the detection of axillary lymph node metastases in patients with early-stage breast cancer. Ann Surg Oncol. 2003;10:622–627.
  63. Van der Hoeven JJ, Hoekstra OS, Comans EF, et al. Determinants of diagnostic performance of [F-18]fluorodeoxyglucose positron emission tomography for axillary staging in breast cancer. Ann Surg. 2002;236:619–624.
  64. DeGrado TR, Coleman RE, Wang S, et al. Synthesis and evaluation of 18F-labeled choline as an oncologic tracer for positron emission tomography: initial findings in prostate cancer. Cancer Res. 2001;61:110–117.
  65. Buck AK, Halter G, Schirrmeister H, et al. Imaging proliferation in lung tumors with PET: 18F-FLT versus 18F-FDG. J Nucl Med. 2003;44:1426–1431.
  66. Dittmann H, Dohmen BM, Paulsen F, et al. [18F]FLT PET for diagnosis and staging of thoracic tumours. Eur J Nucl Med Mol Imaging. 2003;30:1407–1412.
  67. Ray P, Wu AM, Gambhir SS. Optical bioluminescence and positron emission tomography imaging of a novel fusion reporter gene in tumor xenografts of living mice. Cancer Res. 2003;63:1160–1165.
  68. Gambhir SS, Bauer E, Black ME, et al. A mutant herpes simplex virus type 1 thymidine kinase reporter gene shows improved sensitivity for imaging reporter gene expression with positron emission tomography. Proc Natl Acad Sci USA. 2000;97:2785–2790.
  69. Weissleder R, Elizondo G, Wittenberg J, Rabito CA, Bengele HH, Josephson L. Ultrasmall superparamagnetic iron oxide: characterization of a new class of contrast agents for MR imaging. Radiology. 1990;175:489–493.
  70. Lee AS, Weissleder R, Brady TJ, Wittenberg J. Lymph nodes: microstructural anatomy at MR imaging. Radiology. 1991;178:519–522.
  71. Harisinghani MG, Barentsz J, Hahn PF, et al. Noninvasive detection of clinically occult lymph-node metastases in prostate cancer. N Engl J Med. 2003;348:2491–2499.
  72. Anzai Y, Blackwell KE, Hirschowitz SL, et al. Initial clinical experience with dextran-coated superparamagnetic iron oxide for detection of lymph node metastases in patients with head and neck cancer. Radiology. 1994;192:709–715.
  73. Taupitz M, Hamm BK, Barentsz JO, Vock P, Roy C, Bellin MF. Sinerem®-enhanced MRI imaging compared to plain MR imaging in evaluating lymph node metastases from urologic and gynecologic cancers [abstract]. Proceedings of the Radiological Society of North America; Chicago, IL; November 29–December 3, 1999. 213(P):387.
  74. Taupitz M, Wallis F, Heywang-Koebrunner SH, Thibault F, Gilles R, Tardivon AA. Axillary lymph node MR imaging with Sinerem® in patients with suspected breast cancer [abstract]. Proceedings of the Radiological Society of North America; Chicago, IL; November 29–December 3, 1999. 213(P):369.
  75. Harisinghani MG, Saini S, Weissleder R, et al. MR lymphangiography using ultrasmall superparamagnetic iron oxide in patients with primary abdominal and pelvic malignancies: radiographic-pathologic correlation. AJR. 1999;172:1347–1351.
  76. Hudgins PA, Anzai Y, Morris MR, Lucas MA. Ferumoxtran-10, a superparamagnetic iron oxide as a magnetic resonance enhancement agent for imaging lymph nodes: a phase 2 dose study. AJNR. 2002;23:649–656.
  77. Harisinghani M, Desermo W, Hahn PF, Barentsz J, Perumpilichiria J, Weissleder R. MR lymphangiography for detection of minimal nodal disease in patients with prostate cancer: does postcontrast imaging alone suffice for accurate characterization [abstract]? Proceedings of the Radiological Society of North America; Chicago, IL; December 1–6, 2002. Radiology; 225(P):350.
  78. Bellin MF, Roy C, Kinkel K, et al. Lymph node metastases: safety and effectiveness of MR imaging with ultrasmall superparamagnetic iron oxide particles—initial clinical experience. Radiology. 1998;207:799–808.
  79. Sigal R, Vogl T, Casselman J, et al. Lymph node metastases from head and neck squamous cell carcinoma: MR imaging with ultrasmall superparamagnetic iron oxide particles (Sinerem MR)—results of a phase-III multicenter clinical trial. Eur Radiol. 2002;12:1104–1113.
  80. Josephson L, Mahmood U, Wunderbaldinger P, et al. Pan and sentinel lymph node visualization using a near-infrared fluorescent probe. Mol Imaging. 2003;2:18–23.
  81. Oehler MK, Fischer DC, Orlowska-Volk M, et al. Tissue and plasma expression of the angiogenic peptide adrenomedullin in breast cancer. Br J Cancer. 2003;89:1927–1933.
  82. Lugtenburg PJ, Krenning EP, Valkema R, et al. Somatostatin receptor scintigraphy useful in stage I-II Hodgkin’s disease: more extended disease identified. Br J Haematol. 2001;112:936–944.
About these ads
Để lại bình luận

2 phản hồi

  1. Bs Hòa

     /  20.08.2013

    Thật là bổ ích cho tôi khi đọc được tài liệu này . Rất hay .
    Tôi tự tin hơn trong chẩn đoán bệnh .
    Chân thành cảm ơn Bs Tuấn đã có công dịch thuật và truyền bá kiến thức cho chúng tôi.
    Chúc Bs Tuấn luôn bình an và gia đình luôn như ý !
    Những cái ta cho đi là ta đang xây dựng cuộc đời Bác Tuấn ạ .
    Rất cảm ơn một lần nữa !

    Trả lời
    • Cảm ơn bạn đã đọc và rất vui vì bạn thấy tài liệu hữu ích. Chúc bạn mạnh khỏe và thường xuyên ghé qua blog của tôi.

      Trả lời

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 77 other followers

%d bloggers like this: